Những ngày Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ

Tìm hiểu những ngày Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ, ý nghĩa, lịch âm phổ biến và lưu ý về dị bản tại từng đền, phủ ở Việt Nam.

Trong đời sống tín ngưỡng thờ Mẫu, “ngày Tiệc” là cách gọi trang trọng dành cho những dịp tưởng niệm, khánh đản, hóa nhật hoặc ngày lễ chính của các vị Thánh được phụng thờ trong hệ thống Tam phủ, Tứ phủ. Đây không chỉ là thời điểm con nhang, đệ tử và khách hành hương dâng hương, tưởng nhớ công đức các vị Thánh mà còn là dịp cộng đồng gặp gỡ, duy trì nghi lễ, hát chầu văn, rước kiệu và nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống.

Lịch Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ khá phong phú. Bên cạnh những ngày được biết đến rộng rãi như mùng 3 tháng Ba – Tiệc Thánh Mẫu Liễu Hạnh, ngày 17 tháng Bảy – Tiệc Ông Hoàng Bảy, ngày 20 tháng Tám – giỗ Đức Thánh Trần hay ngày 10 tháng Mười – Tiệc Ông Hoàng Mười, còn có nhiều ngày Tiệc gắn với từng hàng Thánh, từng bản đền và truyền thống địa phương.

Những ngày Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ
Những ngày Tiệc quan trọng của Tứ Phủ Công Đồng

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Đạo Mẫu là tín ngưỡng dân gian có quá trình hình thành, giao lưu và biến đổi lâu dài, không có một cơ quan giáo quyền trung ương ban hành lịch lễ thống nhất cho tất cả đền, phủ. Một vị Thánh có thể có ngày đản sinh, ngày hóa, ngày hiển linh hoặc ngày hội tại bản đền khác nhau. Vì vậy, lịch trong bài viết nên được hiểu là bản tổng hợp những ngày Tiệc phổ biến, không phải quy định bắt buộc áp dụng cho mọi nơi.

Ngày Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ là gì?

Trong cách nói của cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, “Tiệc Thánh” hoặc “khánh Tiệc” thường chỉ ngày lễ quan trọng dành cho một vị Thánh hay một nhóm Thánh. Ngày này có thể được xác định theo một trong những căn cứ sau:

  • Ngày đản sinh hoặc ngày giáng sinh theo thần tích.
  • Ngày hóa, ngày mất hoặc ngày trở về cõi Thánh.
  • Ngày hiển linh, lập công hoặc được nhân dân tôn thờ.
  • Ngày hội truyền thống của bản đền.
  • Ngày diễn ra một sự kiện lịch sử gắn với nhân vật được thờ.
  • Ngày lễ tiết theo mùa vụ và lịch sinh hoạt của cộng đồng địa phương.

Trong thực hành dân gian, ngày Tiệc thường được tính theo âm lịch. Tại những đền, phủ lớn, Tiệc Thánh có thể được tổ chức thành lễ hội kéo dài nhiều ngày, gồm lễ cáo yết, mộc dục, rước kiệu, tế lễ, dâng hương, hát chầu văn, hầu Thánh và các hoạt động văn hóa cộng đồng.

Ở những điện thờ nhỏ hoặc trong phạm vi một bản hội, ngày Tiệc có thể được thực hành giản dị hơn, chủ yếu là bao sái ban thờ, sửa soạn hương hoa, lễ vật, tụng niệm hoặc dâng văn tưởng nhớ công đức Thánh. Không phải ngày Tiệc nào cũng phải tổ chức hầu đồng và người đi lễ cũng không bắt buộc phải tham gia một nghi lễ tốn kém.

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016. Hồ sơ di sản nhấn mạnh những hình thức thực hành như thờ cúng thường ngày, nghi lễ lên đồng và các lễ hội tại đền, phủ thờ Mẫu; trong đó Lễ hội Phủ Dầy là một không gian tiêu biểu.

Vì sao lịch Tiệc Tứ Phủ có nhiều dị bản?

Khi tìm hiểu những ngày Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ, người đọc có thể gặp trường hợp cùng một vị Thánh nhưng được ghi hai hoặc nhiều ngày khác nhau. Đây không nhất thiết là sự sai lệch hoàn toàn, mà thường xuất phát từ đặc điểm của tín ngưỡng dân gian.

Một vị Thánh có thể có cả ngày đản và ngày hóa

Một số lịch ghi ngày sinh, trong khi lịch khác lại chọn ngày hóa làm chính Tiệc. Chẳng hạn, Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh thường được nhắc đến với ngày đản vào tháng Hai và ngày hóa vào 25 tháng Năm. Vì chỉ ghi tên vị Thánh mà không chú thích là đản nhật hay hóa nhật, người đọc dễ cho rằng hai nguồn mâu thuẫn với nhau.

Tương tự, Mẫu Liễu Hạnh được tưởng niệm đặc biệt vào tháng Ba tại Phủ Dầy, nhưng trong một số truyền thống còn có ngày khánh đản vào Rằm tháng Tám. Mức độ coi trọng từng ngày phụ thuộc vào thần tích, bản đền và lệ thực hành của từng cộng đồng.

Ngày Tiệc và ngày hội đền có thể không trùng nhau

Ngày Tiệc là ngày gắn với vị Thánh, còn lễ hội là sinh hoạt chung của cộng đồng tại một di tích cụ thể. Vì điều kiện tổ chức, lễ hội có thể diễn ra trước hoặc sau ngày chính Tiệc.

Lễ hội Đền Ông Hoàng Mười hiện tập trung vào dịp 10 tháng Mười âm lịch. Tuy nhiên, tư liệu về tục lệ làng Xuân Am còn ghi nhận lễ Tự điển vào ngày 15 tháng Ba. Sau khi ngôi đền được phục dựng, cộng đồng địa phương tập trung tổ chức lễ hội chính vào ngày hóa 10 tháng Mười, còn ngày 15 tháng Ba chủ yếu dâng hương.

Từng bản đền bảo lưu thần tích và lệ riêng

Các đền thờ cùng một hàng Thánh có thể lưu truyền những thần tích khác nhau. Một địa phương nhấn mạnh ngày Thánh giáng sinh, trong khi nơi khác coi trọng ngày Thánh hiển hóa hoặc lập công tại vùng đất đó.

Chẳng hạn, Tiệc Mẫu Sòng Sơn thường được các lịch dân gian ghi vào ngày 21 hoặc 24 tháng Hai, trong khi lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội được tổ chức theo lịch của địa phương, thường tập trung từ ngày 24 đến 26 tháng Hai âm lịch.

Hệ thống Tứ Phủ có sự giao thoa với nhiều lớp tín ngưỡng

Trong các lịch Tiệc được lưu truyền hiện nay, bên cạnh Tam Tòa Thánh Mẫu, Ngũ Vị Tôn Quan, các hàng Chầu, Ông Hoàng, Thánh Cô và Thánh Cậu còn xuất hiện:

Điều này phản ánh tính dung hợp của tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy nhiên, khi biên soạn lịch cần phân biệt đâu là vị Thánh thuộc điện thần Tứ Phủ phổ biến, đâu là nhân vật thuộc hệ thống Trần Triều, đâu là Mẫu thần hay Thành hoàng được phối thờ tại địa phương.

Những ngày Tiệc Tứ Phủ phổ biến theo 12 tháng âm lịch

Bảng lịch dưới đây tổng hợp những ngày thường xuất hiện trong các lịch Tiệc đang được cộng đồng thực hành lưu truyền. Do tồn tại dị bản, người đi lễ nên đối chiếu thêm thông báo của ban quản lý di tích, thủ nhang hoặc cộng đồng sở tại trước khi tham dự một lễ hội cụ thể.

Tháng Giêng: Mở đầu mùa lễ hội

Tháng Giêng là thời điểm mở đầu năm mới, tập trung nhiều hoạt động dâng hương, khai xuân và lễ hội tại các đền, phủ. Không phải mọi ngày lễ tháng Giêng đều là Tiệc chính của hệ thống Tứ Phủ, nhưng nhiều ngày đã trở thành mốc sinh hoạt quen thuộc của cộng đồng.

Ngày âm lịch Ngày Tiệc hoặc lễ tiết phổ biến Lưu ý
6 tháng Giêng Tiệc Cô Đôi Thượng Ngàn Thường được nhắc trong lịch hàng Thánh Cô
9 tháng Giêng Tiệc Cửu Thiên Huyền Nữ, Vua Cha Ngọc Hoàng Thuộc lớp tín ngưỡng Thiên phủ và tín ngưỡng dân gian
10 tháng Giêng Tiệc Quan Lớn Đệ Nhất; Tiệc Quan Hoàng Bát Có thể khác nhau theo bản đền
12 tháng Giêng Tiệc Đệ Nhất Vương Cô Trần Triều; lễ Bà Chúa Kho Bà Chúa Kho thuộc tín ngưỡng địa phương, không phải hàng Thánh Cô Tứ Phủ
15 tháng Giêng Lễ Thượng Nguyên; Tiệc Tản Viên Sơn Thánh Là ngày lễ tiết rộng trong đời sống tín ngưỡng
17 tháng Giêng Tiệc Cô Tân An Gắn với đền Cô Tân An tại vùng Lào Cai
19–21 tháng Giêng Lễ Tứ Vị Thánh Nương tại Đền Cờn Thuộc tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương
25 tháng Giêng Đại lễ Công đồng Trần Triều tại một số nơi Không phải nơi nào cũng tổ chức cùng ngày

Ngày 17 tháng Giêng là ngày lễ tế truyền thống tại Đền Cô Tân An, nơi tưởng niệm một nữ nhân vật được cộng đồng địa phương tôn kính vì công lao xây dựng và bảo vệ vùng biên.

Tháng Giêng cũng là mùa người dân đi lễ đầu năm. Tuy nhiên, lễ đầu năm và Tiệc Thánh là hai khái niệm khác nhau. Người đi lễ ngày mùng Một, ngày Rằm hoặc ngày khai hội không nên mặc nhiên coi đó là ngày Tiệc chính của mọi vị Thánh được thờ trong đền.

Tháng Hai: Mùa Tiệc Mẫu Thượng Ngàn và các Chúa Bà

Tháng Hai âm lịch có nhiều ngày lễ gắn với không gian rừng núi, các Mẫu Thượng Ngàn, Chúa Bà và những trung tâm thờ Mẫu nổi tiếng.

Ngày âm lịch Ngày Tiệc hoặc lễ tiết phổ biến Lưu ý
Ngày Mão đầu tháng Giêng hoặc dịp đầu xuân Lễ Mẫu Đông Cuông Ngày tổ chức được xác định theo can chi, không cố định bằng con số
2 tháng Hai Tiệc Mẫu Tam Cờ; có nơi ghi Tiệc Cô Đôi Lệ địa phương có thể khác nhau
3 tháng Hai Tiệc Chầu Đệ Nhị; lễ Hưng Nhượng Đại Vương Hai lớp thờ tự khác nhau có thể cùng xuất hiện trong lịch
12 tháng Hai Tiệc Mẫu Tuyên Quang tại một số đền Gắn với các Mẫu thần và Chúa Bà địa phương
14 tháng Hai Đản nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh Phân biệt với hóa nhật 25 tháng Năm
15 tháng Hai Tiệc Quốc Mẫu Tây Thiên Gắn với không gian thờ Quốc Mẫu Tây Thiên
15–16 tháng Hai Tiệc Chúa Nguyệt Hồ Phổ biến tại vùng Bắc Giang và cộng đồng thờ Chúa Bói
17 tháng Hai Tiệc Cậu Đệ Nhất Ngày được ghi trong một số lịch truyền khẩu
20 tháng Hai Tiệc Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Có nhiều thần tích và danh xưng khác nhau
21 hoặc 24 tháng Hai Tiệc Mẫu Sòng Sơn Cần đối chiếu lệ Đền Sòng và lịch hội từng năm

Đền Đông Cuông duy trì hai lễ hội truyền thống đáng chú ý là lễ đầu năm vào ngày Mão tháng Giêng và lễ cơm mới vào ngày Mão tháng Chín. Cách chọn ngày theo địa chi cho thấy không phải mọi lễ hội thờ Mẫu đều gắn với một ngày số cố định trong tháng.

Tại Sòng Sơn, lễ hội hiện nay thường kéo dài từ ngày 24 đến 26 tháng Hai âm lịch, gắn với nghi lễ rước bóng Thánh Mẫu. Vì vậy, người tìm lịch Tiệc Mẫu Sòng cần phân biệt giữa ngày được truyền tụng trong lịch Thánh và thời gian tổ chức lễ hội chính thức của địa phương.

Tháng Ba: Tháng Tiệc Mẫu

Trong dân gian có câu: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”. “Mẹ” trong câu nói này thường được hiểu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, còn “Cha” là Đức Thánh Trần. Câu nói phản ánh vị trí đặc biệt của hai hình tượng này trong tâm thức tín ngưỡng của nhiều cộng đồng người Việt.

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
2 tháng Ba Tiệc Cô Bé Cửa Suốt Gắn với tín ngưỡng địa phương vùng Đông Bắc
3 tháng Ba Tiệc Thánh Mẫu Liễu Hạnh Một trong những ngày lễ quan trọng nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu
7 tháng Ba Tiệc Cậu Bé Đồi Ngang Gắn với Đền Đồi Ngang và truyền thuyết địa phương
14 tháng Ba Tiệc Chầu Đệ Tứ Khâm Sai Ngày phổ biến trong lịch hàng Chầu
17 tháng Ba Tiệc Chầu Bát Nàn Gắn với Đền Tiên La và tín ngưỡng thờ nữ tướng

Lễ hội Phủ Dầy tập trung từ mùng 3 đến mùng 10 tháng Ba âm lịch, nhằm tưởng niệm và tôn vinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Không gian lễ hội gồm nhiều đền, phủ, lăng và các nghi lễ, diễn xướng như tế lễ, rước thỉnh kinh, hát chầu văn, hầu đồng, kéo chữ cùng nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian.

Ngày mùng 3 tháng Ba thường được gọi là ngày giỗ Mẫu hoặc chính Tiệc Mẫu. Tuy nhiên, lễ hội Phủ Dầy không chỉ diễn ra trong một ngày. Mỗi di tích trong quần thể có thể có lịch tế, rước và thực hành riêng, tạo thành một hệ thống lễ hội rộng lớn.

Tháng Tư: Tiệc Chúa Thác Bờ, Chầu Đệ Tam và Quan Đệ Tứ

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
1 tháng Tư Lễ An Sinh Vương Trần Liễu tại một số đền Thuộc hệ thống thờ Trần Triều
1 hoặc 12 tháng Tư Tiệc Chúa Thác Bờ Tồn tại hai mốc ngày trong các bản đền
18 tháng Tư Tiệc Chầu Đệ Tam Thoải Phủ Gắn với miền sông nước
19 tháng Tư Tiệc Quan Hoàng Lục Thanh Hà Lệ phổ biến trong một số lịch Tiệc
24 tháng Tư Tiệc Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai Có nơi tổ chức cùng các lễ tiết Trần Triều

Chúa Thác Bờ là một trường hợp tiêu biểu cho tính địa phương của tín ngưỡng thờ Mẫu. Việc phụng thờ gắn chặt với không gian sông Đà và ký ức của cư dân vùng lòng hồ. Một số nơi lấy mùng 1 tháng Tư làm Tiệc, nơi khác ghi ngày 12 tháng Tư.

Vì vậy, khi đi lễ Chúa Thác Bờ, người hành hương cần xem lịch hoạt động của từng đền thay vì chỉ dựa vào một bảng lịch chung trên mạng.

Tháng Năm: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh và các vị Thánh Sơn Trang

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
10 tháng Năm Tiệc Chầu Lục Cung Nương Thường được coi là ngày giáng sinh
10 tháng Năm Tiệc Cô Sáu Sơn Trang Có thể được tổ chức cùng Tiệc Chầu Lục
10 tháng Năm Tiệc Chúa Đệ Nhất Tây Thiên tại một số nơi Không nên đồng nhất với chính hội Tây Thiên tháng Hai
20 tháng Năm Tiệc Chầu Năm Suối Lân; Cô Năm Suối Lân Gắn với vùng Lạng Sơn
25 tháng Năm Hóa nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh Một trong những Tiệc Quan phổ biến nhất

Quan Lớn Đệ Ngũ thường được gọi là Quan Tuần Tranh hoặc Quan Lớn Tuần Tranh. Trong lịch Tiệc phổ biến, ngày 14 tháng Hai được coi là đản nhật, còn ngày 25 tháng Năm là hóa nhật. Ngày 25 tháng Năm thường được cộng đồng thực hành coi trọng hơn và tổ chức tại những đền gắn với sự tích của Quan.

Việc có hai ngày Tiệc không nên được hiểu là một trong hai ngày chắc chắn sai. Điều quan trọng là xác định rõ mỗi ngày đang tưởng niệm sự kiện nào trong thần tích.

Tháng Sáu: Tháng của Thoải phủ

Tháng Sáu có nhiều ngày Tiệc liên quan đến Mẫu Thoải, Quan Lớn Đệ Tam, Cô Bơ và các vị Thánh gắn với miền sông nước.

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
10 tháng Sáu Tiệc Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ Được nhiều lịch ghi nhận
12 tháng Sáu Tiệc Cô Bơ Bông Gắn với khu vực sông nước xứ Thanh
16 tháng Sáu Tiệc Chúa Năm Phương Phổ biến trong thực hành tại Hải Phòng
24 tháng Sáu Tiệc Quan Lớn Đệ Tam Một trong những ngày Tiệc lớn của hàng Quan
24 tháng Sáu Tiệc Cô Bé Minh Lương Gắn với bản đền địa phương
26 tháng Sáu Tiệc Quan Hoàng Bơ Thường được ghi cùng Tiệc Cô Tám Đồi Chè
26 tháng Sáu Tiệc Cô Tám Đồi Chè Thuộc hàng Thánh Cô

Quan Lớn Đệ Tam là vị Thánh tiêu biểu của Thoải phủ. Trong nghi lễ hầu đồng, giá Quan Đệ Tam thường gắn với màu trắng, biểu tượng của miền nước. Tuy nhiên, màu sắc và cách diễn xướng thuộc ngôn ngữ nghi lễ, không nên được giải thích như bằng chứng lịch sử về nhân thân của vị Thánh.

Ngày 24 tháng Sáu thường được nhắc đến như Tiệc Quan Lớn Đệ Tam. Tại những nơi có di tích thờ thủy thần hoặc nhân vật lịch sử được đồng nhất với Quan, lịch hội có thể kéo dài nhiều ngày và mang đậm lệ làng sở tại.

Tháng Bảy: Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
6 tháng Bảy Tiệc Cô Tư Ngày được ghi trong nhiều lịch hàng Cô
7 hoặc 17 tháng Bảy Tiệc Ông Hoàng Bảy Ngày 17 là chính hội phổ biến tại Đền Bảo Hà
14 tháng Bảy Tiệc Ông Hoàng Đôi tại một số nơi Gắn với thần tích địa phương
21 tháng Bảy Tiệc Chầu Bảy Kim Giao Còn gọi Chầu Bảy Mỏ Bạch
21 tháng Bảy Tiệc Cô Bảy Kim Giao Có thể được tổ chức cùng Tiệc Chầu Bảy
21 tháng Bảy Tiệc Cô Cả Núi Dùm tại Tuyên Quang Thuộc truyền thống bản địa

Đền Bảo Hà tổ chức hội chính vào ngày 17 tháng Bảy âm lịch hằng năm. Đây được coi là ngày giỗ tướng Hoàng Bảy trong truyền thống thờ phụng tại địa phương. Lễ hội có những hoạt động như rước kiệu, tế lễ, dâng hương và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Một số lịch truyền khẩu ghi ngày 7 tháng Bảy là Tiệc Ông Hoàng Bảy, có thể do sự tương ứng giữa số thứ tự “Bảy” và ngày tháng. Tuy nhiên, đối với lễ hội tại Đền Bảo Hà, ngày 17 tháng Bảy là mốc được cơ quan địa phương xác nhận và tổ chức ổn định.

Điều này cho thấy khi biên soạn lịch Tiệc cần ưu tiên tư liệu của chính bản đền và cộng đồng sở tại, thay vì suy luận ngày Tiệc từ tên gọi hoặc số thứ tự của vị Thánh.

Tháng Tám: Giỗ Cha và Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải

Tháng Tám âm lịch là một trong những tháng lễ quan trọng nhất đối với những cộng đồng có thực hành thờ Đức Thánh Trần và Tứ Phủ.

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
10 tháng Tám Tiệc Quan Hoàng Lục An Biên tại một số nơi Ngày có thể khác giữa các bản đền
15 tháng Tám Khánh đản Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong một số truyền thống Không thay thế chính Tiệc tháng Ba
15 tháng Tám Đản nhật Chầu Bát Nàn Gắn với truyền thống thờ Chầu Bát
20 tháng Tám Giỗ Đức Thánh Trần Dân gian gọi là “giỗ Cha”
22 tháng Tám Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Gắn với Đền Đồng Bằng và tín ngưỡng thủy thần
24 tháng Tám Đản nhật Quan Lớn Đệ Nhất Ngày được ghi trong nhiều lịch Tứ Phủ

Ngày 20 tháng Tám âm lịch là ngày giỗ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong truyền thống dân gian. Lễ hội mùa thu Côn Sơn – Kiếp Bạc thường được tổ chức từ ngày 10 đến 20 tháng Tám âm lịch, với lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày 20.

Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và tín ngưỡng thờ Mẫu là hai hệ thống có nguồn gốc, thần điện và nghi lễ riêng, nhưng có quá trình giao thoa sâu sắc. Tại nhiều đền, phủ, ban Trần Triều được phối thờ và giá Đức Thánh Trần hoặc các vị thuộc Công đồng Trần Triều xuất hiện trong thực hành nghi lễ.

Vì vậy, lịch Tiệc Tứ Phủ hiện nay thường bao gồm ngày 20 tháng Tám, mặc dù xét theo cấu trúc thần điện, Đức Thánh Trần không thuộc các hàng Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô và Cậu của Tứ Phủ.

Tháng Chín: Tiệc Cô Chín và hội Công đồng Bắc Lệ

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
2 tháng Chín Tiệc Cô Bé Suối Ngang Gắn với không gian thờ Mẫu vùng Lạng Sơn
4 tháng Chín Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ trong một số lịch Thuộc tín ngưỡng thờ Quốc Tổ, Quốc Mẫu
9 tháng Chín Tiệc Mẫu Cửu Trùng Thiên Gắn với tiết Trùng Dương
9 tháng Chín Tiệc Cô Chín Một số nơi tổ chức ngày khác
9 tháng Chín Tiệc Chầu Chín Cửu Tỉnh Lệ phổ biến trong lịch hàng Chầu
13 tháng Chín Tiệc Cô Đôi Cam Đường Gắn với vùng Lào Cai
19–20 tháng Chín Lễ hội Công đồng Bắc Lệ Chính hội thường vào ngày 20
20 tháng Chín Tiệc Chầu Bé Bắc Lệ Gắn với bản đền Bắc Lệ
20 tháng Chín Tiệc Chầu Mười Đồng Mỏ tại một số nơi Có dị bản ngày 10 tháng Mười Một

Ngày 9 tháng Chín là tiết Trùng Dương trong lịch cổ truyền. Sự trùng lặp của con số chín khiến ngày này được nhiều cộng đồng chọn làm Tiệc Mẫu Cửu Trùng Thiên, Chầu Chín hoặc Cô Chín. Tuy nhiên, từng đền thờ Cô Chín có thể lưu giữ ngày lễ riêng; không nên cho rằng mọi nơi đều tổ chức chính Tiệc đúng ngày 9 tháng Chín.

Lễ hội Đền Công đồng Bắc Lệ hiện được tổ chức từ ngày 18 đến 20 tháng Chín âm lịch, trong đó ngày 20 là chính hội, có nghi lễ rước kiệu từ Đền Bắc Lệ sang Đền Đèo Kẻng rồi hoàn cung.

Hội Bắc Lệ vừa là ngày hội của cộng đồng địa phương, vừa là một sự kiện nổi bật trong đời sống tín ngưỡng thờ Mẫu vùng Đông Bắc. Không gian thờ tự tại đây thể hiện sự giao thoa giữa tín ngưỡng Mẫu của người Việt với văn hóa của các cộng đồng Tày, Nùng tại xứ Lạng.

Tháng Mười: Tiệc Ông Hoàng Mười

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
10 tháng Mười Tiệc Ông Hoàng Mười Một trong những Tiệc Ông Hoàng lớn nhất trong năm
10 tháng Mười Tiết Trùng Thập và lễ cơm mới tại một số vùng Tạo thêm ý nghĩa mùa vụ cho ngày hội

Ngày 10 tháng Mười âm lịch là ngày Tiệc chính của Ông Hoàng Mười được biết đến rộng rãi tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Tại Đền Ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am, lễ hội gồm lễ khai quang, mộc dục, rước sắc, yết cáo, đại tế và lễ tạ.

Hình tượng Ông Hoàng Mười được hình thành qua sự kết hợp của truyền thuyết Tứ Phủ, ký ức lịch sử và tín ngưỡng địa phương. Trong một số câu chuyện dân gian, Ông được đồng nhất hoặc liên hệ với những nhân vật có công tại vùng Nghệ Tĩnh. Các cách đồng nhất này cần được trình bày như truyền thuyết hoặc quan niệm địa phương, không nên mặc nhiên coi là kết luận lịch sử.

Trong diễn xướng hầu đồng, giá Ông Hoàng Mười thường gắn với hình ảnh một vị quan văn võ tài hoa, trọng việc học hành và giúp dân. Ý nghĩa ấy góp phần làm cho ngày Tiệc của Ông trở thành dịp đông đảo người dân hành hương, nhưng không nên diễn giải thành lời hứa rằng cứ dâng lễ là chắc chắn thi đỗ, thăng chức hoặc thành công.

Tháng Mười Một: Tiệc Quan Lớn Đệ Nhị và Chầu Mười

Ngày âm lịch Ngày Tiệc phổ biến Lưu ý
2 tháng Mười Một Tiệc Quan Lớn Đệ Nhị tại một số đền Có nơi lấy ngày 11 làm Tiệc chính
2 tháng Mười Một Tiệc Chầu Đệ Nhị Có thể tổ chức cùng Tiệc Quan Đệ Nhị
6 tháng Mười Một Đản nhật Tản Viên Sơn Thánh trong một số lịch Thuộc tín ngưỡng thờ Tản Viên
10 tháng Mười Một Tiệc Chầu Mười Đồng Mỏ Có nơi tổ chức vào 20 tháng Chín
10 tháng Mười Một Tiệc Cô Mười Đồng Mỏ Thường đi cùng lệ thờ Chầu Mười
11 tháng Mười Một Đản nhật Quan Lớn Đệ Nhị Là mốc được nhiều bản hội sử dụng

Quan Lớn Đệ Nhị còn được gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát hoặc Quan Đệ Nhị Thượng Ngàn. Trong lịch Tiệc đang lưu hành có cả ngày 2 và 11 tháng Mười Một. Sự khác biệt có thể liên quan đến cách ghi ngày tại từng đền hoặc việc phân biệt ngày Tiệc bản đền với ngày đản nhật.

Chầu Mười Đồng Mỏ cũng có nhiều ngày được lưu truyền. Một số nơi tổ chức vào ngày 20 tháng Chín, trong khi lịch khác ghi ngày 10 tháng Mười Một. Khi giới thiệu ngày Tiệc Chầu Mười, cần ghi rõ đây là mốc phổ biến tại đâu, tránh khẳng định chỉ có một ngày duy nhất.

Tháng Chạp: Lễ tất niên và Tiệc Chúa Lâm Thao

Ngày âm lịch Ngày Tiệc hoặc lễ tiết phổ biến Lưu ý
Đầu tháng đến trước ngày 23 Lễ tất niên tại nhiều đền, điện Thời gian do từng nơi lựa chọn
10 tháng Chạp Tiệc Đức Thánh Trần hoặc An Sinh Vương tại một số đền Thuộc lệ Trần Triều địa phương
20 tháng Chạp Tiệc Đệ Nhị Vương Cô trong một số lịch Không phổ biến đồng đều
25 tháng Chạp Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao Còn gọi Chúa Lâm Thao, Chúa Ót trong dân gian

Tháng Chạp là thời điểm các bản đền tổng kết một năm phụng sự, bao sái ban thờ, làm lễ tất niên và chuẩn bị đón năm mới. Lễ tất niên không có một ngày thống nhất; thường được sắp xếp trước ngày 23 tháng Chạp hoặc theo điều kiện của đền và bản hội.

Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao vào ngày 25 tháng Chạp được ghi nhận trong nhiều lịch Tiệc dân gian. Chúa Lâm Thao là một vị Chúa Bà được phối thờ trong không gian Tứ Phủ tại một số nơi, nhưng thần tích, danh xưng và vị trí thờ tự có thể khác nhau giữa các địa phương.

Những ngày Tiệc quan trọng thường được nhiều người ghi nhớ

Trong lịch Tiệc Tứ Phủ có hàng chục ngày lễ lớn nhỏ. Tuy nhiên, một số mốc có phạm vi ảnh hưởng rộng, gắn với những trung tâm tín ngưỡng nổi tiếng và thường thu hút đông người hành hương.

Mùng 3 tháng Ba – Tiệc Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Đây là ngày Tiệc tiêu biểu nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu. Lễ hội Phủ Dầy diễn ra trong nhiều ngày, nhưng mùng 3 tháng Ba thường được coi là ngày giỗ hoặc chính Tiệc Mẫu.

Ý nghĩa của ngày này không chỉ nằm ở sự tôn kính một vị Thánh Mẫu. Thông qua hình tượng Mẫu Liễu Hạnh, cộng đồng gửi gắm quan niệm về người Mẹ, đạo lý uống nước nhớ nguồn, khát vọng được che chở và mong muốn một cuộc sống bình an.

Ngày 25 tháng Năm – Tiệc Quan Lớn Đệ Ngũ

Đây thường được coi là hóa nhật Quan Tuần Tranh. Ngày Tiệc thu hút người dân đến những đền gắn với sự tích của Quan, nhất là ở vùng Hải Dương và Lạng Sơn.

Các câu chuyện về Quan Lớn Tuần Tranh tồn tại dưới nhiều dị bản. Có bản kể Quan là thủy thần, có bản gắn với nhân vật lịch sử, lại có bản nhấn mạnh nỗi oan khuất và sự hiển linh. Vì thế, những tình tiết thần tích cần được giới thiệu đúng tư cách là truyền thuyết tín ngưỡng.

Ngày 24 tháng Sáu – Tiệc Quan Lớn Đệ Tam

Quan Lớn Đệ Tam là vị Quan tiêu biểu của Thoải phủ. Ngày Tiệc thường gắn với những không gian thờ thủy thần, đền ven sông và hoạt động hành hương mùa hè.

Trong văn hóa nông nghiệp, nước vừa là nguồn sống vừa tiềm ẩn hiểm nguy. Việc tôn thờ các vị Thánh miền Thoải phản ánh thái độ biết ơn, kính sợ và mong muốn chung sống hài hòa với tự nhiên.

Ngày 17 tháng Bảy – Tiệc Ông Hoàng Bảy

Ngày hội tại Đền Bảo Hà là một trong những sự kiện lớn của vùng Lào Cai. Hình tượng Ông Hoàng Bảy gắn với ký ức bảo vệ biên cương và sự giao thoa văn hóa vùng thượng du.

Khi đi lễ Ông Hoàng Bảy, cần tránh cách hiểu thiên lệch coi đây là nơi xin “lộc đỏ đen”. Những biểu hiện cờ bạc hoặc gán cho vị Thánh khả năng giúp thắng bạc không phản ánh đầy đủ giá trị lịch sử, văn hóa của di tích và dễ làm sai lệch ý nghĩa tín ngưỡng.

Ngày 20 tháng Tám – Giỗ Đức Thánh Trần

Ngày 20 tháng Tám là ngày giỗ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nhân vật lịch sử có công lớn trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thế kỷ XIII.

Sau khi qua đời, ông được nhân dân tôn làm Đức Thánh Trần. Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần phát triển thành một hệ thống riêng và có quan hệ mật thiết với thực hành thờ Mẫu. Ngày giỗ Cha vì thế thường xuất hiện trong lịch sinh hoạt của các đền, phủ Tứ Phủ.

Ngày 20 tháng Chín – Hội Công đồng Bắc Lệ

Đây là ngày chính hội tại Đền Bắc Lệ, một trung tâm thờ Mẫu nổi tiếng của xứ Lạng. Lễ rước Mẫu và Quan Trần Triều thể hiện sự kết hợp giữa nhiều lớp tín ngưỡng trong cùng một không gian văn hóa.

Lễ hội còn là dịp cộng đồng địa phương gặp gỡ, trình diễn âm nhạc, trang phục, nghi thức và bảo lưu ký ức về vùng đất.

Ngày 10 tháng Mười – Tiệc Ông Hoàng Mười

Tiệc Ông Hoàng Mười có sức lan tỏa rộng, đặc biệt tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Hình tượng Ông được cộng đồng ca ngợi là một vị quan tài hoa, văn võ song toàn, gần gũi với người dân xứ Nghệ.

Ngày Tiệc diễn ra trùng tiết Trùng Thập và thời điểm thu hoạch mùa màng tại nhiều vùng, vì vậy vừa mang ý nghĩa tưởng niệm vị Thánh vừa gắn với tâm thức tạ ơn sau mùa vụ.

Phân biệt ngày đản, ngày hóa, ngày giỗ và ngày chính hội

Việc hiểu các thuật ngữ giúp người đọc tránh nhầm lẫn khi gặp nhiều ngày khác nhau dành cho một vị Thánh.

Đản nhật

Đản nhật là ngày sinh hoặc ngày giáng sinh của một vị Thánh theo thần tích. Đối với những nhân vật có tiểu sử lịch sử rõ ràng, ngày đản có thể dựa trên gia phả, thần phả hoặc văn bia. Đối với nhân vật huyền thoại, ngày đản thuộc về truyền thống tín ngưỡng của cộng đồng.

Hóa nhật

Hóa nhật thường chỉ ngày vị Thánh mất, hóa về trời hoặc rời cõi trần theo cách diễn đạt của thần tích. Đối với nhiều vị Thánh, hóa nhật được coi là chính Tiệc vì đây là thời điểm cộng đồng tưởng niệm công đức và sự hiển Thánh.

Ngày giỗ

Ngày giỗ thường dùng với nhân vật lịch sử hoặc người đã được cộng đồng thần thánh hóa. Chẳng hạn, ngày 20 tháng Tám là ngày giỗ Đức Thánh Trần.

Trong tín ngưỡng dân gian, ngày giỗ có thể được gọi bằng cách trang trọng là ngày kỵ, hóa nhật hoặc khánh Tiệc.

Ngày chính hội

Ngày chính hội là ngày quan trọng nhất trong một kỳ lễ hội tại địa phương. Ngày này có thể trùng với Tiệc Thánh, nhưng cũng có thể được chọn theo lịch thuận tiện cho việc rước, tế và tập trung cộng đồng.

Bởi vậy, câu hỏi “Tiệc Thánh ngày nào?” và “Lễ hội đền diễn ra ngày nào?” đôi khi có hai câu trả lời khác nhau.

Trong ngày Tiệc Tứ Phủ thường có những hoạt động gì?

Tùy quy mô và truyền thống của từng nơi, ngày Tiệc có thể gồm nhiều nghi thức và hoạt động khác nhau.

Bao sái và trang hoàng đền, phủ

Trước ngày Tiệc, người trông coi di tích thường vệ sinh, bao sái đồ thờ, sửa sang không gian hành lễ và chuẩn bị hương hoa. Những công việc này không chỉ mang tính nghi lễ mà còn thể hiện trách nhiệm gìn giữ nơi thờ tự.

Việc bao sái đồ thờ cổ, tượng thờ và hiện vật có giá trị cần được thực hiện thận trọng. Không nên tự ý sơn sửa, thếp lại hoặc thay đổi bài trí tại di tích khi chưa có sự đồng ý của cơ quan quản lý và người có chuyên môn.

Lễ cáo yết và lễ mộc dục

Lễ cáo yết được thực hiện để trình báo việc mở hội. Lễ mộc dục là nghi thức lau rửa tượng hoặc đồ thờ theo lệ của một số di tích.

Không phải đền nào cũng có lễ mộc dục và nghi thức cụ thể có thể khác nhau. Người tham dự cần tôn trọng không gian hành lễ, không tự ý quay phim, chụp ảnh tại cung cấm hoặc khu vực hạn chế.

Rước kiệu và tế lễ

Rước kiệu là hoạt động tiêu biểu tại nhiều lễ hội thờ Mẫu. Đoàn rước có thể gồm cờ hội, trống chiêng, đội nghi lễ, kiệu Thánh, lễ vật và cộng đồng địa phương.

Nghi thức rước không chỉ biểu đạt niềm tin về việc Thánh vân du mà còn tái hiện trật tự cộng đồng, mỹ thuật truyền thống, âm nhạc và ký ức lịch sử của làng xã.

Hát chầu văn và hầu đồng

Chầu văn là loại hình âm nhạc nghi lễ có vị trí quan trọng trong thực hành thờ Mẫu. Lời văn thường ca ngợi cảnh sắc, phẩm hạnh, công trạng và sự tích của các vị Thánh.

Trong một vấn hầu, âm nhạc, lời ca, trang phục và động tác múa được kết hợp để thể hiện từng giá Thánh. Nghi lễ chầu văn của người Việt đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tuy nhiên, hầu đồng không phải tiết mục biểu diễn tùy tiện và cũng không phải điều bắt buộc trong mọi ngày Tiệc. Việc thực hành cần phù hợp với truyền thống, không gian thờ tự và quy định của ban quản lý di tích.

Hoạt động văn hóa cộng đồng

Nhiều lễ hội còn có hát dân ca, đấu vật, cờ người, kéo chữ, múa rồng, thi đấu thể thao hoặc trình diễn nghề truyền thống. Các hoạt động này cho thấy lễ hội thờ Mẫu không chỉ có phần nghi lễ mà còn là không gian văn hóa chung của cộng đồng.

Đi lễ ngày Tiệc nên chuẩn bị như thế nào?

Đi lễ ngày Tiệc trước hết là một hành vi văn hóa thể hiện sự tôn trọng đối với nơi thờ tự và cộng đồng sở tại. Lễ vật lớn hay nhỏ không quyết định giá trị của lòng thành.

Lễ vật nên giản dị và phù hợp

Người đi lễ có thể chuẩn bị hương, hoa tươi, quả, bánh hoặc lễ vật theo quy định của từng đền. Không cần cố sắm mâm lễ đắt tiền để mong đổi lấy tài lộc, chức vị hoặc sự ưu ái đặc biệt.

Tại nơi đông người, nên hạn chế lễ cồng kềnh gây cản trở lối đi. Không đặt tiền lẻ tùy tiện lên tượng, ngai thờ, đồ tế khí hoặc các hiện vật của di tích.

Trang phục cần lịch sự

Trang phục nên kín đáo, sạch sẽ, thuận tiện cho việc di chuyển và phù hợp với không gian tín ngưỡng. Không nên mặc trang phục quá ngắn, gây phản cảm hoặc hóa trang theo khăn áo hầu Thánh khi không tham gia nghi lễ.

Tôn trọng lệ đền và cộng đồng địa phương

Mỗi đền có cách bố trí ban thờ, lối vào, nơi đặt lễ và quy định chụp ảnh khác nhau. Người đi lễ nên quan sát biển hướng dẫn hoặc hỏi người phụ trách thay vì tự ý hành động.

Đặc biệt, không tự ý đi vào cung cấm, chạm tay vào tượng thờ, di chuyển đồ lễ của người khác hoặc chen lấn trong thời điểm rước và tế.

Không biến ngày Tiệc thành dịp cầu xin cực đoan

Theo quan niệm dân gian, người đi lễ thường cầu bình an, sức khỏe, gia đạo thuận hòa và công việc tốt đẹp. Tuy nhiên, đó là sự biểu đạt niềm tin và ước vọng, không phải một giao dịch bảo đảm kết quả.

Không nên tin rằng phải vay tiền làm lễ lớn, mở phủ, hầu đồng hoặc mua vật phẩm đắt tiền mới được Thánh chứng. Cũng không nên lợi dụng ngày Tiệc để bói toán, dọa căn số, tuyên truyền tai họa hoặc ép buộc người khác thực hiện nghi lễ.

Giá trị văn hóa của lịch Tiệc Tứ Phủ

Gìn giữ ký ức về các nhân vật có công

Nhiều vị Thánh trong điện thần Tứ Phủ được cộng đồng gắn với những nhân vật lịch sử, nữ tướng, tướng lĩnh bảo vệ biên cương hoặc người có công khai phá đất đai.

Dù quá trình thần thánh hóa tạo nên nhiều truyền thuyết, lớp ký ức về công lao bảo vệ cộng đồng vẫn là một thành phần quan trọng của tín ngưỡng.

Tạo nên bản đồ hành hương văn hóa

Mỗi ngày Tiệc thường gắn với một hoặc nhiều địa điểm thờ tự. Qua lịch Tiệc, có thể nhận ra một bản đồ văn hóa trải rộng từ đồng bằng Bắc Bộ đến vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

Đó là Phủ Dầy gắn với Mẫu Liễu Hạnh, Bảo Hà gắn với Ông Hoàng Bảy, Bắc Lệ gắn với Chầu Bé và Mẫu Thượng Ngàn, Kiếp Bạc gắn với Đức Thánh Trần, Nghệ An gắn với Ông Hoàng Mười cùng nhiều đền, phủ khác.

Bảo lưu âm nhạc, trang phục và nghệ thuật trình diễn

Ngày Tiệc tạo môi trường để hát chầu văn, âm nhạc nghi lễ, nghệ thuật thêu may khăn áo, múa và các kỹ năng thực hành được trao truyền.

Giá trị của di sản không chỉ nằm ở sự linh thiêng theo niềm tin của người thực hành, mà còn ở âm nhạc, ngôn ngữ, mỹ thuật, tri thức dân gian và khả năng gắn kết cộng đồng.

Phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

Hệ thống Tứ Phủ phân chia không gian thiêng thành các miền trời, đất, sông nước và rừng núi. Nhiều ngày Tiệc gắn với mùa xuân, mùa nước, mùa thu hoạch hoặc những thời điểm chuyển mùa.

Qua đó, tín ngưỡng phản ánh cách cư dân nông nghiệp nhìn nhận tự nhiên: vừa gần gũi, nuôi dưỡng con người, vừa chứa đựng sức mạnh cần được tôn trọng.

Những lưu ý khi sử dụng lịch Tiệc Tứ Phủ

Lịch Tiệc nên được sử dụng như tài liệu tìm hiểu văn hóa và định hướng tra cứu, không nên coi là một bảng ngày tháng tuyệt đối.

Trước khi tham dự lễ hội, người dân nên:

  1. Kiểm tra thông báo mới nhất của ban tổ chức hoặc ban quản lý di tích.
  2. Phân biệt ngày Tiệc truyền thống với lịch tổ chức của một năm cụ thể.
  3. Xác định đó là ngày đản, ngày hóa hay ngày chính hội.
  4. Đối chiếu tên Thánh và bản đền để tránh nhầm nhân vật.
  5. Không tự suy diễn ngày Tiệc từ số thứ tự của vị Thánh.
  6. Không dùng lịch Tiệc để phán căn số, vận hạn hoặc ép buộc làm lễ.
  7. Tôn trọng những khác biệt hợp lý giữa các địa phương.

Đặc biệt, những bảng lịch đưa quá nhiều nhân vật vào cùng hệ thống mà không chú thích có thể gây nhầm lẫn. Trần Triều, Tản Viên Sơn Thánh, Tứ Vị Thánh Nương, Quốc Mẫu Âu Cơ và các Chúa Bà địa phương có quan hệ giao thoa với không gian thờ Mẫu, nhưng không phải tất cả đều thuộc cấu trúc cốt lõi của điện thần Tứ Phủ.

Kết luận

Những ngày Tiệc trong Đạo Mẫu Tứ Phủ tạo nên một vòng lễ tiết phong phú kéo dài suốt 12 tháng âm lịch. Mỗi ngày gắn với một vị Thánh, một thần tích, một địa điểm thờ tự hoặc một ký ức riêng của cộng đồng. Qua đó, lịch Tiệc không chỉ đánh dấu thời gian hành lễ mà còn phản ánh lịch sử địa phương, nghệ thuật dân gian, đời sống cộng đồng và quan niệm của người Việt về trời, đất, núi rừng, sông nước.

Trong số đó, mùng 3 tháng Ba – Tiệc Mẫu Liễu Hạnh, ngày 17 tháng Bảy – Tiệc Ông Hoàng Bảy, ngày 20 tháng Tám – giỗ Đức Thánh Trần, ngày 20 tháng Chín – hội Công đồng Bắc Lệ và ngày 10 tháng Mười – Tiệc Ông Hoàng Mười là những mốc được biết đến rộng rãi. Bên cạnh các ngày phổ biến này, mỗi đền, phủ vẫn có thể bảo lưu ngày đản, ngày hóa và lệ hội riêng.

Hiểu đúng lịch Tiệc cần đi cùng thái độ tôn trọng sự đa dạng của tín ngưỡng dân gian. Việc hành lễ nên hướng đến lòng biết ơn, đạo lý uống nước nhớ nguồn, sự gắn kết cộng đồng và ý thức bảo vệ di sản, thay vì chạy theo lễ vật tốn kém, lời hứa đổi vận hay những cách diễn giải mang tính mê tín. Khi được thực hành đúng mực, ngày Tiệc Tứ Phủ là một phần giàu ý nghĩa trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng của người Việt.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.428 bài viết của Chi Tran
Bài viết liên quan

1 bình luận

Để lại bình luận