Tháng 2 Âm lịch vẫn nằm trong mùa lễ hội mùa xuân nhưng có sắc thái khác với tháng Giêng. Nếu tháng đầu năm tập trung nhiều hoạt động du xuân, khai hội và cầu an, tháng Hai bắt đầu xuất hiện rõ hơn những nghi lễ gắn với sản xuất nông nghiệp, nghề nghiệp truyền thống, tín ngưỡng cư dân ven sông, ven biển và các ngày tưởng niệm nhân vật được thờ tại đình, đền.
Lễ hội trong tháng Hai phân bố khá rộng. Ở miền Bắc có hội chùa Quỳnh Lâm, đền Cửa Ông, đền Hai Bà Trưng tại Đồng Nhân, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, hội làng Bát Tràng và lễ hội Tây Thiên. Miền Trung có lễ hội Bà Thu Bồn, trò Xuân Phả, lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn, lễ chùa Hương Tích và nhiều lễ cầu ngư. Tại Nam Bộ có các kỳ lễ Kỳ yên ở đình thần và những sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa, người Việt.
Một đặc điểm đáng chú ý là không phải lễ hội nào trong tháng 2 Âm lịch cũng có ngày tổ chức cố định. Một số ngày lệ được duy trì khá ổn định, chẳng hạn mùng 3 tháng Hai tại đền Cửa Ông, ngày 10 tại lễ hội Bà Thu Bồn và hội Xuân Phả, rằm tháng Hai tại Tây Thiên, ngày 18 tại chùa Hương Tích hoặc ngày 19 gắn với lễ vía Quán Thế Âm. Trong khi đó, lễ hội Hoa Ban, một số lễ cầu ngư, lễ Kỳ yên và lễ khao lề có thể được điều chỉnh theo mùa vụ, thời tiết hoặc kế hoạch của từng năm.

Bài viết được trình bày theo dạng thống kê, Văn Hóa Tâm Linh chỉ giới thiệu khái quát tên lễ hội, thời gian, địa phương và tính chất chính. Lịch sử, đối tượng thờ phụng, kiến trúc di tích, phần lễ và phần hội của từng lễ hội nên được triển khai trong những bài viết riêng.
Phạm vi thống kê lễ hội tháng 2 Âm lịch
Việt Nam có số lượng lớn đình, đền, chùa, miếu, lăng và không gian sinh hoạt cộng đồng. Nhiều làng duy trì ngày sinh, ngày hóa, ngày chiến thắng hoặc ngày khánh đản của đối tượng được thờ vào tháng Hai nhưng chỉ tổ chức nghi lễ nội bộ, không mở hội lớn.
Một số ngày lễ chỉ được ghi lại trong thần tích, hương ước hoặc ký ức của cộng đồng. Tư liệu về thời gian tổ chức, đối tượng thờ và diễn trình nghi lễ giữa các nguồn đôi khi chưa thống nhất. Vì vậy, không thể khẳng định một danh sách đã bao gồm tuyệt đối mọi lễ hội diễn ra trong tháng 2 Âm lịch trên toàn quốc.
Danh sách dưới đây tập trung vào:
- Những lễ hội có ngày lệ được địa phương công bố tương đối rõ.
- Những lễ hội đã được ghi nhận trong hồ sơ di sản hoặc thông tin của cơ quan văn hóa.
- Các lễ hội tiêu biểu cho từng vùng miền và loại hình tín ngưỡng.
- Các nghi lễ diễn ra trong tháng Hai nhưng không có ngày thống nhất.
- Một số ngày lễ tôn giáo được nhiều cơ sở và cộng đồng cùng thực hành.
Thời gian trong bài chủ yếu là ngày truyền thống theo Âm lịch. Chương trình khai mạc, rước, thi đấu, biểu diễn và hoạt động du lịch của từng năm có thể diễn ra sớm hơn hoặc muộn hơn ngày lệ.
Bảng thống kê các lễ hội tháng 2 Âm lịch
| Thời gian truyền thống | Tên lễ hội | Địa phương hoặc cộng đồng tiêu biểu | Tính chất chính |
|---|---|---|---|
| Mùng 1–3 tháng Hai | Lễ hội chùa Quỳnh Lâm | Phường Bình Khê, tỉnh Quảng Ninh | Lễ Phật, tưởng niệm các vị Tổ Trúc Lâm, rước nước và sinh hoạt cộng đồng |
| Mùng 1–3 tháng Hai | Lễ hội đình làng Trân Châu | Đặc khu Cát Hải, thành phố Hải Phòng | Tế Thành hoàng, rước và tưởng nhớ tiền nhân |
| Mùng 1–3 tháng Hai | Lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn | Xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai | Tưởng nhớ tiền nhân cảng thị và sự giao lưu của các cộng đồng cư dân |
| Mùng 1–2 tháng Hai | Lễ hội đình làng Ngọc Tân | Xã Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ | Tế lễ, tưởng niệm tiền nhân và cầu mùa |
| Mùng 2 tháng Hai | Lễ Cầu Mùa làng Đồng Tâm | Xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên | Cầu mùa, tưởng niệm Thành hoàng và sinh hoạt nông nghiệp |
| Mùng 2 tháng Hai | Lễ hội Sóng Mun | Xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh | Hội xuân của cộng đồng vùng biên, văn nghệ và trò chơi dân gian |
| Mùng 2 tháng Hai | Ngày hội truyền thống Vạn Linh | Xã Vạn Linh, tỉnh Lạng Sơn | Sinh hoạt cộng đồng, văn nghệ, thể thao và giao lưu đầu xuân |
| Mùng 3–4 tháng Hai | Lễ hội đền Cửa Ông | Phường Cửa Ông, tỉnh Quảng Ninh | Tưởng niệm Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng và các tướng nhà Trần |
| Mùng 5–7 tháng Hai | Lễ hội đền Hai Bà Trưng – Đồng Nhân | Phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội | Tưởng niệm Hai Bà Trưng, cấp thủy, mộc dục và tế lễ |
| Mùng 5–6 tháng Hai | Lễ hội làng Sơn Đồng | Xã Sơn Đồng, thành phố Hà Nội | Tế Thành hoàng, rước và bảo tồn sinh hoạt văn hóa làng |
| Mùng 9–10 tháng Hai | Lễ hội truyền thống Xuân Phả | Xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa | Rước sắc, tế Thành hoàng và trình diễn trò Xuân Phả |
| Mùng 10 tháng Hai | Lễ hội Kẻ Rị – Kẻ Chè | Xã Thiệu Trung, tỉnh Thanh Hóa | Tưởng niệm Thành hoàng, tiền nhân và truyền thống làng nghề |
| Mùng 10–12 tháng Hai | Lễ hội Bà Thu Bồn | Xã Nông Sơn và vùng ven sông Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng | Tế Bà, rước nước, đua thuyền và sinh hoạt cộng đồng ven sông |
| Mùng 10 tháng Hai | Lễ hội đình Lệ Tảo | Phường Phù Liễn, thành phố Hải Phòng | Tế Thành hoàng, rước và hoạt động văn hóa làng |
| Mùng 10 tháng Hai | Lễ hội đình Tử Các | Xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên | Tưởng niệm các vị thần được thờ tại đình |
| Ngày 11–14 tháng Hai | Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm | Phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh | Tưởng niệm Tam Tổ Trúc Lâm, lễ Phật và sinh hoạt văn hóa |
| Ngày 14–16 tháng Hai | Lễ hội làng Bát Tràng | Xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội | Rước nước, tế Thành hoàng và tôn vinh cộng đồng làng nghề |
| Rằm đến ngày 17 tháng Hai | Lễ hội Tây Thiên | Xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ | Tưởng niệm Quốc Mẫu Tây Thiên, rước và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu |
| Rằm tháng Hai | Lễ hội Nàng Han | Xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu | Tưởng niệm Nàng Han trong truyền thuyết của cộng đồng Thái |
| Rằm tháng Hai | Lễ Kỳ yên đình thần Xuân Lộc | Phường Long Khánh, tỉnh Đồng Nai | Tế Thành hoàng, cầu an và tri ân tiền hiền, hậu hiền |
| Khoảng rằm tháng Hai | Lễ cầu ngư Hội An | Phường Hội An, thành phố Đà Nẵng | Tế Cá Ông, cầu bình an cho ngư dân và mùa biển thuận lợi |
| Ngày 15–18 tháng Hai | Lễ hội chùa Bổ Đà | Phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh | Tế Tổ, lễ Phật, Quan họ và sinh hoạt văn hóa vùng Kinh Bắc |
| Ngày 17–20 tháng Hai | Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn | Phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng | Lễ Phật, rước, thuyết pháp, văn hóa và hoạt động cộng đồng |
| Ngày 18 tháng Hai | Lễ khánh đản tại chùa Hương Tích | Xã Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh | Lễ tưởng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và hành hương |
| Ngày 18 tháng Hai | Lễ tế Tổ nghề rèn Hiền Lương | Cộng đồng nghề rèn Hiền Lương tại thành phố Huế | Tưởng niệm tổ nghề và duy trì quan hệ cộng đồng nghề nghiệp |
| Ngày 18 tháng Hai | Lễ kỷ niệm chiến thắng Như Nguyệt | Một số địa phương ven sông Cầu, tỉnh Bắc Ninh | Tưởng niệm chiến thắng năm 1077, có kỳ tổ chức lớn theo chu kỳ |
| Ngày 19 tháng Hai | Lễ vía Quán Thế Âm | Nhiều cơ sở Phật giáo trên cả nước | Lễ tụng niệm, hướng thiện và tưởng niệm hạnh nguyện từ bi |
| Trong tháng Hai | Lễ hội Hoa Ban và Xên Mường | Tỉnh Điện Biên và một số vùng văn hóa Thái | Cầu mùa, tôn vinh hoa ban và bản sắc cộng đồng |
| Tùy địa phương | Các lễ cầu ngư đầu năm | Các làng biển miền Trung và Nam Bộ | Tế Cá Ông, cầu an và mở đầu mùa biển |
| Tùy từng năm | Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa | Đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi | Tưởng niệm các đội dân binh Hoàng Sa và khẳng định ký ức biển đảo |
Bảng thống kê cho thấy lễ hội tập trung nhiều nhất vào đầu tháng, ngày mùng 10, rằm và khoảng ngày 18–20 tháng Hai. Đây cũng là thời điểm giao thoa giữa hội xuân, lễ Phật, hội làng và các nghi lễ mở đầu mùa sản xuất mới.
Các lễ hội từ mùng 1 đến mùng 4 tháng Hai
Lễ hội chùa Quỳnh Lâm
Chùa Quỳnh Lâm thuộc phường Bình Khê, tỉnh Quảng Ninh, là một địa điểm quan trọng trong hệ thống di tích liên quan đến nhà Trần và Thiền phái Trúc Lâm. Lễ hội thường diễn ra từ mùng 1 đến mùng 3 tháng Hai.
Các hoạt động tiêu biểu gồm lễ Phật, tưởng niệm các vị Tổ Trúc Lâm, rước nước, rước tượng hoặc bài vị và sinh hoạt văn hóa, thể thao của cư dân địa phương. Quy mô chương trình từng năm có thể thay đổi nhưng mùng 1 tháng Hai vẫn là mốc khai hội quen thuộc.
Lễ hội đình làng Trân Châu
Đình làng Trân Châu nằm trong khu vực đặc khu Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Lễ hội thường kéo dài từ mùng 1 đến mùng 3 tháng Hai, trong đó ngày đầu là thời điểm dâng hương và khai hội.
Đây là dịp người dân tưởng niệm các vị được thờ tại đình, tri ân tiền nhân và duy trì sự gắn kết của cộng đồng đảo. Phần hội có thể bao gồm văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian.
Lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn
Lễ hội được tổ chức tại khu vực cảng thị Nước Mặn xưa, nay thuộc xã Tuy Phước Bắc, tỉnh Gia Lai. Ngày hội thường nằm trong khoảng từ mùng 1 đến mùng 3 tháng Hai, một số năm chương trình bắt đầu từ cuối tháng Giêng.
Lễ hội phản ánh lịch sử của một thương cảng từng có hoạt động giao lưu giữa người Việt, người Hoa, người Chăm và các cộng đồng thương nhân. Đối tượng thờ và nghi lễ tại Chùa Bà thể hiện sự đan xen của nhiều lớp văn hóa.
Lễ hội đình làng Ngọc Tân
Lễ hội đình làng Ngọc Tân tại xã Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thường diễn ra trong hai ngày đầu tháng Hai.
Phần lễ hướng đến việc tưởng nhớ tiền nhân và những vị có công với cộng đồng. Phần hội có các hoạt động văn hóa, thể thao và trò chơi, đồng thời gửi gắm mong ước về một năm bình an, mùa màng thuận lợi.
Lễ Cầu Mùa làng Đồng Tâm
Lễ Cầu Mùa được tổ chức vào mùng 2 tháng Hai tại đình Đồng Tâm, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên.
Đây là một nghi lễ nông nghiệp gắn với tục thờ Thành hoàng và các lực lượng thiên nhiên trong quan niệm của cư dân địa phương. Lễ thể hiện mong muốn thời tiết thuận lợi, cây trồng phát triển và đời sống cộng đồng ổn định.
Lễ hội Sóng Mun
Lễ hội Sóng Mun tại xã Quảng Đức, tỉnh Quảng Ninh diễn ra vào mùng 2 tháng Hai. Đây là ngày hội đầu xuân của cộng đồng cư dân vùng biên.
Nội dung thường gồm các hoạt động văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian, giới thiệu ẩm thực và sản vật địa phương. Ngày hội góp phần duy trì sự giao lưu giữa các dân tộc cùng sinh sống trong khu vực.
Ngày hội truyền thống Vạn Linh
Xã Vạn Linh, tỉnh Lạng Sơn duy trì ngày hội truyền thống vào mùng 2 tháng Hai.
Ngày hội có các chương trình giao lưu văn nghệ, thể thao, trại hội và trò chơi dân gian. Đây là sinh hoạt cộng đồng đầu xuân, không nên đồng nhất với một lễ hội tôn giáo hay tín ngưỡng có nghi thức giống nhau tại mọi năm.
Lễ hội đền Cửa Ông
Lễ hội đền Cửa Ông diễn ra chính vào ngày mùng 3 và mùng 4 tháng Hai tại phường Cửa Ông, tỉnh Quảng Ninh.
Đền thờ Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều tướng lĩnh nhà Trần có công bảo vệ vùng Đông Bắc. Lễ hội có dâng hương, tế lễ, rước và nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng.
Đây là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Quảng Ninh trong tháng Hai. Ngoài kỳ hội mùa xuân, di tích còn có ngày lễ vào tháng Tám Âm lịch.
Các lễ hội từ mùng 5 đến mùng 10 tháng Hai
Lễ hội đền Hai Bà Trưng tại Đồng Nhân
Cụm di tích đền, chùa, đình Hai Bà Trưng nằm tại phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Lễ hội thường diễn ra từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Hai.
Ngày mùng 5 có nghi lễ cấp thủy và mộc dục; những năm tổ chức kỳ hội lớn có thể thực hiện rước nước từ khu vực ven sông Hồng về đền. Phần lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ vào thế kỷ I.
Lễ hội Đồng Nhân cần được phân biệt với lễ hội đền Hai Bà Trưng tại xã Mê Linh, được tổ chức vào tháng Giêng. Hai di tích cùng thờ Hai Bà nhưng có lịch sử và ngày hội riêng.
Lễ hội làng Sơn Đồng
Lễ hội làng Sơn Đồng tại xã Sơn Đồng, thành phố Hà Nội thường diễn ra vào ngày mùng 5 và mùng 6 tháng Hai.
Ngày hội gắn với đình làng, tục thờ Thành hoàng và ký ức của cộng đồng. Các nghi thức có thể gồm tế lễ, rước, dâng hương cùng chương trình văn nghệ và trò chơi.
Sơn Đồng còn nổi tiếng với nghề tạc tượng và chế tác đồ thờ. Tuy nhiên, lịch sử lễ hội đình làng và lịch sử nghề thủ công cần được trình bày như hai nội dung có quan hệ nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Lễ hội truyền thống Xuân Phả
Lễ hội Xuân Phả được tổ chức vào mùng 9 và mùng 10 tháng Hai tại thôn Xuân Phả 1, xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Điểm nổi bật nhất là hệ thống trò Xuân Phả, gồm những điệu múa dân gian mô phỏng các đoàn người từ nhiều phương đến chúc mừng chiến thắng của triều đình. Nội dung này được lưu truyền qua truyền thuyết và diễn xướng dân gian.
Lễ hội còn có rước văn, rước sắc, tế Thành hoàng và sinh hoạt cộng đồng. Do đã có bài viết riêng về trò Xuân Phả, bài thống kê chỉ cần ghi nhận đây là một lễ hội tiêu biểu của xứ Thanh trong tháng Hai.
Lễ hội Kẻ Rị – Kẻ Chè
Lễ hội diễn ra vào mùng 10 tháng Hai tại xã Thiệu Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Đây là vùng đất có truyền thống khoa bảng và nhiều nghề thủ công, trong đó nổi bật có nghề đúc đồng. Lễ hội tưởng niệm các vị Thành hoàng, tiền nhân và những người có đóng góp cho việc xây dựng cộng đồng.
Phần hội thường gắn với trò chơi dân gian và hoạt động phản ánh đời sống nông nghiệp, làng nghề. Một số nghi thức cũ đã thay đổi do miếu, đường rước và không gian làng có biến động theo thời gian.
Lễ hội Bà Thu Bồn
Lễ hội Bà Thu Bồn được tổ chức từ mùng 10 đến ngày 12 tháng Hai tại vùng ven sông Thu Bồn, tập trung ở xã Nông Sơn và các địa bàn liên quan thuộc thành phố Đà Nẵng.
Phần lễ có tế Bà, rước nước, rước sắc hoặc các nghi thức tưởng niệm theo tục lệ địa phương. Phần hội thường có đua thuyền, thể thao, văn nghệ và giới thiệu sản vật ven sông.
Hình tượng Bà Thu Bồn được giải thích bằng nhiều truyền thuyết khác nhau, phản ánh sự giao thoa của văn hóa Việt và Chăm. Các truyện kể này cần được xác định là truyền thuyết và ký ức cộng đồng, không nên coi toàn bộ là sự kiện lịch sử.
Lễ hội đình Lệ Tảo
Lễ hội đình Lệ Tảo tại phường Phù Liễn, thành phố Hải Phòng có ngày lệ vào mùng 10 tháng Hai.
Đình thờ các vị thần gắn với tín ngưỡng Thành hoàng của cư dân địa phương. Hoạt động thường có rước, dâng hương, tế lễ, múa và biểu diễn nghệ thuật.
Một số năm chương trình được mở rộng trong ba ngày, nhưng ngày mùng 10 vẫn là mốc truyền thống quan trọng.
Lễ hội đình Tử Các
Lễ hội đình Tử Các tại xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên được tổ chức vào mùng 10 tháng Hai.
Đây là ngày hội của cộng đồng làng nhằm tưởng nhớ các vị được thờ tại đình, thực hiện nghi lễ tế và tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao. Nội dung chi tiết về thần tích cần được kiểm tra trong bài viết riêng về di tích.
Các lễ hội từ ngày 11 đến rằm tháng Hai
Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm nằm tại phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội truyền thống thường diễn ra từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai; một số năm hoạt động chuẩn bị bắt đầu từ ngày 11.
Chùa là một trung tâm quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm. Lễ hội tưởng niệm Tam Tổ Trúc Lâm, gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, đồng thời có lễ Phật, rước và các hoạt động văn hóa.
Các mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là một di sản tư liệu có giá trị đặc biệt. Tuy nhiên, giá trị của mộc bản, lịch sử chùa và lễ hội là những nội dung cần được trình bày riêng, tránh dồn quá nhiều thông tin vào bài thống kê.
Lễ hội làng Bát Tràng
Hội làng Bát Tràng thường diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Hai tại xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội.
Nghi thức nổi bật gồm rước nước từ sông Hồng, tắm bài vị, rước bài vị và tế tại đình. Lễ hội gắn với tục thờ Thành hoàng và truyền thống của cộng đồng làng gốm.
Hội Bát Tràng không chỉ tôn vinh nghề gốm mà còn phản ánh lịch sử hình thành làng, quan hệ với sông Hồng và tổ chức xã hội truyền thống. Các hoạt động quảng bá sản phẩm hiện đại là phần bổ sung, không thay thế những nghi lễ gốc.
Lễ hội Tây Thiên
Lễ hội Tây Thiên khai hội vào rằm tháng Hai và thường kéo dài đến ngày 17 tại xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ.
Lễ hội tưởng niệm Quốc Mẫu Tây Thiên. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, bà có công giúp vua Hùng trong buổi đầu dựng nước. Nội dung này thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu và ký ức văn hóa của cộng đồng.
Không gian Tây Thiên đồng thời có các cơ sở Phật giáo và đền thờ Mẫu. Người tham dự cần phân biệt hai hệ thống thực hành, tránh coi mọi hoạt động tại khu danh thắng đều thuộc cùng một nghi lễ.
Lễ hội Nàng Han
Lễ hội Nàng Han được tổ chức vào rằm tháng Hai tại xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Nàng Han là nhân vật nữ anh hùng trong truyền thuyết của một số cộng đồng Thái vùng Tây Bắc. Lễ hội tưởng nhớ công lao của nàng, đồng thời giới thiệu trang phục, dân ca, dân vũ, ẩm thực và trò chơi truyền thống.
Các câu chuyện về chiến công, mó nước và việc Nàng Han bay về trời thuộc truyền thuyết cộng đồng, không nên trình bày như một tiểu sử lịch sử đã được kiểm chứng đầy đủ.
Lễ Kỳ yên đình thần Xuân Lộc
Đình thần Xuân Lộc tại phường Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tổ chức lễ Kỳ yên vào rằm tháng Hai.
Lễ Kỳ yên hướng đến Thành hoàng, tiền hiền, hậu hiền và những người có công với cộng đồng. Các nghi thức thường mang ý nghĩa cầu bình an, thời tiết thuận lợi và đời sống ổn định.
Tại Nam Bộ, nhiều đình thần cùng có lễ Kỳ yên nhưng ngày tổ chức không giống nhau. Vì vậy, không nên lấy ngày rằm tháng Hai của đình Xuân Lộc làm lịch chung cho tất cả đình thần.
Lễ cầu ngư tại Hội An
Một số cộng đồng ngư dân Hội An tổ chức lễ cầu ngư vào khoảng rằm tháng Hai.
Lễ thường gắn với tín ngưỡng thờ Cá Ông, tưởng nhớ những người đã mất trên biển và cầu cho các chuyến ra khơi bình an. Các hoạt động có thể gồm tế lễ, hát bả trạo, đua thuyền hoặc sinh hoạt văn nghệ.
Ngày tổ chức thay đổi giữa từng làng và từng năm. Vì vậy, khi viết bài riêng cần xác định rõ làng chài, lăng thờ và thông báo của cộng đồng tổ chức.
Các lễ hội từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Hai
Lễ hội chùa Bổ Đà
Chùa Bổ Đà thuộc phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh. Những hoạt động lễ hội có thể bắt đầu từ ngày 15, trong khi ngày hội truyền thống tập trung từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Hai.
Phần lễ gồm tế Tổ, dâng hương Tam bảo và tưởng niệm các vị sư có công với chùa. Phần hội gắn với hát Quan họ, văn nghệ, thể thao, giới thiệu làng nghề và sản vật vùng Kinh Bắc.
Không gian chùa Bổ Đà có kiến trúc, vườn tháp và hệ thống mộc bản đặc sắc. Những giá trị này nên được trình bày trong bài chuyên sâu về chùa, thay vì mô tả dài trong bài thống kê lịch lễ hội.
Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn
Lễ hội được tổ chức tại chùa Quán Thế Âm, phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, thường tập trung trong khoảng ngày 17 đến ngày 19 tháng Hai. Một số năm chương trình kéo dài đến ngày 20.
Ngày chính gắn với lễ vía hoặc khánh đản Quán Thế Âm Bồ Tát theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Hoạt động gồm lễ Phật, tụng niệm, rước, thuyết pháp, triển lãm, nghệ thuật và thể thao.
Lễ hội mang màu sắc Phật giáo nhưng đồng thời là một sinh hoạt văn hóa lớn của thành phố. Việc tham dự nên hướng đến tinh thần từ bi, hướng thiện, không nên đặt nặng cầu tài hoặc mong đợi kết quả siêu nhiên.
Lễ khánh đản tại chùa Hương Tích
Chùa Hương Tích tọa lạc trên dãy Hồng Lĩnh, thuộc xã Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Mùa hội bắt đầu từ tháng Giêng, nhưng ngày 18 tháng Hai là một mốc quan trọng gắn với lễ khánh đản Quán Thế Âm Bồ Tát. Đây là ngày đông Phật tử và du khách về lễ Phật, vãn cảnh.
Cần phân biệt ngày khai hội vào tháng Giêng với ngày lễ tháng Hai. Hai hoạt động nằm trong cùng mùa hành hương nhưng có nội dung tổ chức khác nhau.
Lễ tế Tổ nghề rèn Hiền Lương
Cộng đồng nghề rèn Hiền Lương tại thành phố Huế duy trì lễ tế Tổ vào ngày 18 tháng Hai.
Những người làm nghề dù sinh sống ở nhiều nơi vẫn trở về quê để dâng hương, tưởng nhớ tổ nghề và gặp gỡ đồng nghiệp. Lễ góp phần duy trì đạo lý nhớ nguồn và quan hệ giữa các thế hệ thợ rèn.
Đây là một nghi lễ nghề nghiệp, không phải lễ hội hành hương đại chúng. Khi tham dự, người ngoài cộng đồng cần tôn trọng quy định và không gian hành lễ.
Lễ kỷ niệm chiến thắng Như Nguyệt
Một số địa phương ven sông Cầu duy trì lễ tưởng niệm chiến thắng trên phòng tuyến Như Nguyệt vào ngày 18 tháng Hai.
Lễ hội hướng đến Lý Thường Kiệt, các tướng sĩ và nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1077. Những kỳ tổ chức lớn có thể diễn ra theo chu kỳ nhiều năm chứ không phải năm nào cũng có đầy đủ phần rước và phần hội.
Do phòng tuyến trải dài qua nhiều địa phương, khi viết bài riêng cần ghi rõ địa điểm tổ chức, di tích trung tâm và cộng đồng chủ trì.
Lễ vía Quán Thế Âm ngày 19 tháng Hai
Ngày 19 tháng Hai được nhiều cơ sở Phật giáo Bắc tông xem là một trong những ngày lễ liên quan đến Quán Thế Âm Bồ Tát.
Các chùa có thể tổ chức tụng kinh, niệm Phật, thuyết pháp, phóng sinh hoặc hoạt động thiện nguyện. Nội dung và quy mô không giống nhau tại mọi cơ sở.
Đây là một ngày lễ tôn giáo được thực hành rộng rãi, không phải một lễ hội duy nhất có địa điểm và chương trình thống nhất trên toàn quốc.
Các lễ hội không có ngày cố định trong tháng Hai
Lễ hội Hoa Ban và Xên Mường
Trong truyền thống của một số cộng đồng Thái Tây Bắc, tháng Hai là thời điểm hoa ban nở và diễn ra những nghi lễ cầu mùa, Xên Mường hoặc sinh hoạt cộng đồng.
Lễ hội Hoa Ban hiện nay thường được tổ chức ở quy mô tỉnh tại Điện Biên, kết hợp hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao và giới thiệu sản phẩm địa phương. Ngày Dương lịch thay đổi theo kế hoạch từng năm, dù không gian văn hóa vẫn gắn với mùa hoa và tháng Hai Âm lịch.
Cần phân biệt lễ hội du lịch cấp tỉnh với những nghi lễ Xên Mường, cầu mùa của từng cộng đồng. Hoạt động quy mô lớn có thể tổng hợp nhiều yếu tố văn hóa nhưng không thay thế hoàn toàn thực hành truyền thống tại bản làng.
Các lễ cầu ngư đầu năm
Nhiều làng biển từ Bắc Trung Bộ đến Nam Trung Bộ tổ chức lễ cầu ngư trong tháng Hai. Một số nơi làm lễ vào rằm, nơi khác chọn ngày gắn với ngày thành lập làng, ngày Cá Ông lụy hoặc lịch đánh bắt của địa phương.
Nghi lễ thường có tế Cá Ông, cầu an, hát bả trạo, rước sắc, đua thuyền và tưởng niệm người gặp nạn trên biển.
Không nên xây dựng một lịch chung cho mọi lễ cầu ngư. Mỗi làng biển có lăng thờ, đối tượng phối thờ, ngày lệ và diễn trình riêng.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa
Trong tư liệu về Lý Sơn, lễ khao lề từng được các dòng họ thực hành trong khoảng từ ngày 10 đến ngày 20 tháng Hai. Tuy nhiên, lịch tổ chức quy mô cộng đồng hoặc cấp địa phương hiện nay có thể chuyển sang tháng Ba và thay đổi theo từng năm.
Lễ tưởng niệm những người từng nhận nhiệm vụ ra Hoàng Sa, Bắc Hải trong lịch sử. Các lễ vật và mô hình thuyền thể hiện ký ức về chuyến đi nhiều hiểm nguy của các đội dân binh.
Khi thống kê lịch lễ hội, không nên khẳng định lễ luôn diễn ra vào một ngày cố định trong tháng Hai. Người có nhu cầu tham dự cần kiểm tra thông báo mới nhất của đặc khu Lý Sơn và ban tổ chức.
Các lễ Kỳ yên tại đình thần Nam Bộ
Ngoài đình thần Xuân Lộc, nhiều đình ở Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang, Cần Thơ và các tỉnh Nam Bộ tổ chức lễ Kỳ yên trong tháng Hai.
Ngày hội thường gắn với sắc phong, ngày vía Thành hoàng hoặc lệ riêng của đình. Có nơi làm lễ trong hai ngày, nơi khác kéo dài ba ngày với nghi thức túc yết, đoàn cả, xây chầu và hát bội.
Do sự khác biệt giữa từng đình, tên lễ Kỳ yên chỉ phản ánh một loại hình nghi lễ chung, không đồng nghĩa mọi nơi đều có cùng lịch và cách thực hiện.
Thống kê theo loại hình lễ hội
Lễ hội đình, đền và thờ Thành hoàng
Nhóm này gồm:
- Lễ hội đình làng Trân Châu.
- Lễ hội đình làng Ngọc Tân.
- Lễ Cầu Mùa làng Đồng Tâm.
- Lễ hội đền Cửa Ông.
- Lễ hội đền Hai Bà Trưng tại Đồng Nhân.
- Lễ hội làng Sơn Đồng.
- Lễ hội Kẻ Rị – Kẻ Chè.
- Lễ hội đình Lệ Tảo.
- Lễ hội đình Tử Các.
- Lễ Kỳ yên đình thần Xuân Lộc.
Nhóm này phản ánh vai trò của đình, đền trong việc duy trì ký ức lịch sử và tổ chức cộng đồng. Đối tượng thờ có thể là nhân vật lịch sử, người có công lập làng, vị thần trong truyền thuyết hoặc thần bảo trợ nghề nghiệp, sản xuất.
Lễ hội Phật giáo và hành hương
Nhóm tiêu biểu gồm:
- Lễ hội chùa Quỳnh Lâm.
- Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm.
- Lễ hội chùa Bổ Đà.
- Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn.
- Lễ khánh đản tại chùa Hương Tích.
- Lễ vía Quán Thế Âm tại các chùa.
Các lễ hội này đều có hoạt động lễ Phật nhưng lịch sử và hệ phái không hoàn toàn giống nhau. Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm và Bổ Đà có mối liên hệ đậm nét với Phật giáo Trúc Lâm hoặc truyền thống sơn môn miền Bắc; Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn và Hương Tích tập trung vào hình tượng Quán Thế Âm.
Lễ hội gắn với sông nước và biển
Nhóm này gồm:
- Lễ hội Bà Thu Bồn.
- Lễ cầu ngư Hội An.
- Các lễ cầu ngư tại làng biển.
- Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
- Nghi thức rước nước tại Bát Tràng và một số hội đình.
Nước vừa là nguồn sống vừa là không gian chứa đựng nhiều rủi ro. Các nghi lễ thể hiện lòng biết ơn, mong muốn bình an và ký ức của cộng đồng sống bằng nghề sông nước, đánh bắt hoặc giao thương.
Lễ hội nghề nghiệp và làng nghề
Nhóm tiêu biểu gồm:
- Lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn.
- Lễ hội làng Bát Tràng.
- Lễ hội Kẻ Rị – Kẻ Chè.
- Lễ tế Tổ nghề rèn Hiền Lương.
- Lễ hội làng Sơn Đồng.
Các lễ hội góp phần duy trì lịch sử nghề, quan hệ giữa người thợ và cộng đồng. Tuy nhiên, không phải lễ hội nào cũng trực tiếp thờ tổ nghề; nhiều nơi trước hết là hội đình làng, sau đó mới kết hợp giới thiệu nghề truyền thống.
Lễ hội của các cộng đồng dân tộc
Nhóm này gồm:
- Lễ hội Sóng Mun.
- Ngày hội truyền thống Vạn Linh.
- Lễ hội Nàng Han.
- Lễ hội Hoa Ban và Xên Mường.
Sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng Tày, Nùng, Dao, Thái và những dân tộc khác có sự khác biệt về ngôn ngữ, nghi lễ, trang phục và diễn xướng. Không nên dùng tập tục của một nhóm để mô tả thay cho toàn bộ cư dân miền núi.
Lễ hội tưởng niệm lịch sử
Nhóm tiêu biểu gồm:
- Lễ hội đền Cửa Ông.
- Lễ hội đền Hai Bà Trưng tại Đồng Nhân.
- Lễ hội truyền thống Xuân Phả.
- Lễ kỷ niệm chiến thắng Như Nguyệt.
- Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Khi giới thiệu nhóm lễ hội này cần dựa vào sử liệu, đồng thời phân biệt rõ dữ kiện đã được nghiên cứu với thần tích, truyền thuyết và cách kể của địa phương.
Phân bố lễ hội tháng Hai theo vùng miền
Miền Bắc
Quảng Ninh có chùa Quỳnh Lâm, đền Cửa Ông, Sóng Mun và nhiều hội đình vùng Đông Bắc. Hà Nội có đền Hai Bà Trưng tại Đồng Nhân, làng Sơn Đồng và hội Bát Tràng.
Bắc Ninh có chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà và các lễ tưởng niệm chiến thắng Như Nguyệt. Phú Thọ có Tây Thiên và hội đình Ngọc Tân. Lạng Sơn, Thái Nguyên và Lai Châu có các hội xuân gắn với cộng đồng dân tộc.
Đặc điểm chung của miền Bắc là sự tiếp nối mùa hội xuân, hệ thống rước nước, tế Thành hoàng, lễ Phật và những sinh hoạt cộng đồng của làng xã.
Bắc Trung Bộ
Thanh Hóa nổi bật với lễ hội Xuân Phả và Kẻ Rị – Kẻ Chè. Hà Tĩnh có ngày lễ tại chùa Hương Tích. Thành phố Huế duy trì lễ tế Tổ nghề rèn Hiền Lương và nhiều lễ cầu ngư ở vùng ven biển.
Lễ hội Bắc Trung Bộ thường kết hợp giữa tín ngưỡng làng, nghề nghiệp, Phật giáo và ký ức về quá trình khai phá, bảo vệ vùng đất.
Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ
Thành phố Đà Nẵng có lễ hội Bà Thu Bồn, lễ cầu ngư Hội An và lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn. Tỉnh Gia Lai có lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn.
Khu vực này thể hiện rõ sự giao thoa văn hóa Việt, Chăm, Hoa và các cộng đồng cư dân ven sông, ven biển. Nhiều lễ hội vừa có ý nghĩa tín ngưỡng vừa phản ánh lịch sử giao thương.
Nam Bộ
Lễ Kỳ yên đình thần Xuân Lộc là một lễ hội tiêu biểu trong tháng Hai. Ngoài ra, nhiều đình thần ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cũng chọn tháng này để tế Thành hoàng, tiền hiền, hậu hiền.
Các lễ hội Nam Bộ thường có nghi thức túc yết, chánh tế, xây chầu, hát bội hoặc biểu diễn nghệ thuật truyền thống. Thời gian của từng đình phụ thuộc lệ riêng chứ không có lịch thống nhất.
Những nhầm lẫn thường gặp
Nhầm lễ hội tháng Hai với lễ hội kéo dài từ tháng Giêng
Một số mùa hội bắt đầu từ tháng Giêng và kéo dài sang tháng Hai, như Chùa Hương, Yên Tử hoặc chùa Hương Tích. Điều này không có nghĩa ngày chính hội đều thuộc tháng Hai.
Khi lập danh sách cần phân biệt ngày khai hội, thời gian đón khách và các ngày lễ quan trọng phát sinh trong suốt mùa hội.
Nhầm lễ hội cùng thờ một nhân vật
Lễ hội đền Hai Bà Trưng tại Mê Linh diễn ra vào tháng Giêng, trong khi lễ hội tại Đồng Nhân diễn ra vào tháng Hai. Cùng thờ Hai Bà Trưng nhưng hai di tích có lịch sử, cộng đồng và ngày hội riêng.
Tương tự, lễ Quán Thế Âm có thể diễn ra tại nhiều chùa, nhưng lễ hội Ngũ Hành Sơn là một sự kiện cụ thể tại Đà Nẵng.
Nhầm lịch một năm với ngày lệ truyền thống
Lễ hội có ngày lệ từ 16 đến 18 nhưng một năm cụ thể có thể mở gian hàng hoặc khai mạc hoạt động từ ngày 15. Chương trình kéo dài bốn ngày không có nghĩa ngày truyền thống đã thay đổi.
Bài viết tổng quan nên dùng ngày lệ làm cơ sở, chỉ nêu lịch từng năm khi thật sự cần thiết và đã kiểm tra thông báo mới.
Cho rằng mọi lễ cầu ngư đều diễn ra vào rằm tháng Hai
Rằm tháng Hai là ngày lễ ở một số làng biển nhưng không phải lịch chung. Nhiều cộng đồng tổ chức vào tháng Giêng, tháng Ba hoặc những tháng khác.
Ngày cầu ngư phụ thuộc lệ làng, đối tượng thờ và mùa biển của từng địa phương.
Đồng nhất tín ngưỡng với lời hứa về tài lộc
Lễ Kỳ yên, lễ Quán Thế Âm, hội Tây Thiên hay lễ hội đình làng hướng đến tưởng niệm, cầu an và gắn kết cộng đồng. Không có cơ sở để khẳng định dâng lễ lớn sẽ chắc chắn đem lại tiền bạc, công danh hoặc thay đổi vận mệnh.
Lưu ý khi tham dự lễ hội tháng 2 Âm lịch
Trước khi đi, người tham dự nên kiểm tra thông báo mới nhất của chính quyền địa phương, ban quản lý di tích hoặc ban tổ chức. Thời gian rước, khai mạc và hoạt động hội có thể thay đổi do thời tiết hoặc yêu cầu bảo đảm an toàn.
Tại đình, đền và chùa, cần mặc trang phục lịch sự, giữ trật tự và tuân thủ hướng dẫn. Không tự ý vào hậu cung, khu vực tế hoặc nơi dành riêng cho người thực hiện nghi lễ.
Lễ vật nên giản dị, phù hợp với phong tục và điều kiện cá nhân. Không đặt tiền tùy tiện lên tượng, đồ thờ hoặc hiện vật. Hạn chế đốt vàng mã và không mang sản phẩm từ động vật hoang dã vào di tích.
Khi tham dự lễ hội của cộng đồng dân tộc hoặc nghi lễ nghề nghiệp, cần xin phép trước khi quay phim, chụp ảnh ở khoảng cách gần. Một số phần lễ không dành cho khách tự do đi lại.
Tại các cuộc rước nước, đua thuyền và lễ cầu ngư, người xem phải đứng trong khu vực an toàn, không tự ý xuống thuyền hoặc tiếp cận khu vực kỹ thuật.
Du khách cần giữ vệ sinh, không bẻ cây, hái hoa, viết vẽ lên di tích hoặc xả rác trong không gian núi rừng. Đặc biệt tại Tây Thiên, Hương Tích và Ngũ Hành Sơn, việc bảo vệ cảnh quan có ý nghĩa trực tiếp đối với giá trị của di sản.
Giá trị chung của các lễ hội tháng 2 Âm lịch
Lễ hội tháng Hai tiếp nối không khí mùa xuân nhưng đã chuyển dần từ vui Tết sang các hoạt động cộng đồng có nội dung rõ hơn về lịch sử, sản xuất và nghề nghiệp.
Các hội đình và đền giúp cộng đồng tưởng nhớ Thành hoàng, anh hùng dân tộc và tiền nhân. Lễ hội Phật giáo tạo môi trường hành hương, học hỏi giáo lý và thực hành tinh thần hướng thiện. Lễ cầu mùa, cầu ngư và Kỳ yên phản ánh mong muốn sống hài hòa với đất đai, sông nước và biển cả.
Nhiều hình thức nghệ thuật được duy trì trong lễ hội như trò Xuân Phả, Quan họ, hát bả trạo, hát bội, dân ca miền núi, múa rước và trò chơi dân gian. Nếu tách khỏi môi trường lễ hội, một số hình thức này có nguy cơ chỉ còn là tiết mục sân khấu.
Lễ hội còn là dịp người xa quê trở về, các dòng họ gặp gỡ và cư dân cùng thực hiện công việc chung. Việc chuẩn bị lễ vật, rước, tế và đón khách tạo ra sự hợp tác giữa nhiều thế hệ.
Trong đời sống hiện đại, bảo tồn lễ hội không có nghĩa giữ nguyên mọi chi tiết. Một số nghi thức có thể được điều chỉnh để bảo đảm an toàn, giảm lãng phí và phù hợp với điều kiện mới. Điều quan trọng là cộng đồng vẫn hiểu được ý nghĩa cốt lõi và giữ vai trò chủ thể.
Kết luận
Các lễ hội diễn ra vào tháng 2 Âm lịch tại Việt Nam tạo nên một bức tranh đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử, nghề nghiệp và đời sống cộng đồng.
Đầu tháng có lễ hội chùa Quỳnh Lâm, Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn, đình làng Trân Châu, đền Cửa Ông và đền Hai Bà Trưng tại Đồng Nhân. Khoảng mùng 9 đến ngày 12 có lễ hội Xuân Phả, Kẻ Rị – Kẻ Chè và Bà Thu Bồn. Từ giữa tháng đến ngày 20 có hội Bát Tràng, Tây Thiên, Nàng Han, chùa Bổ Đà, Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn và lễ tại chùa Hương Tích.
Bên cạnh các lễ có ngày tương đối cố định còn có lễ hội Hoa Ban, Xên Mường, các lễ cầu ngư, Kỳ yên và lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Lịch của những lễ này cần được xác minh theo từng địa phương và từng năm.
Danh sách thống kê giúp người đọc nhận diện các mốc chính nhưng không thể thay thế bài viết chuyên sâu về từng di sản. Khi nghiên cứu một lễ hội cụ thể, cần cập nhật địa danh hành chính hiện tại, kiểm tra ngày lệ, phân biệt lịch sử với truyền thuyết và tôn trọng niềm tin của cộng đồng thực hành.
Giá trị bền vững của lễ hội tháng Hai không nằm ở những lời hứa hẹn về tài lộc hay khả năng thay đổi số phận. Điều đáng trân trọng hơn là đạo lý nhớ nguồn, sự gắn kết cộng đồng, tinh thần hướng thiện và trách nhiệm gìn giữ di sản cho các thế hệ sau.