Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý

Khám phá lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua ảnh tư liệu, với kiệu Thánh, voi bành, cờ hội và cộng đồng Kẻ Láng bên sông Tô Lịch.

Những bức ảnh cũ về lễ hội chùa Láng mở ra một khung cảnh khác hẳn phố Chùa Láng đông đúc ngày nay. Dưới những tán cây lớn, đoàn người mặc áo dài đi thành hàng, kiệu và tàn lọng nổi bật giữa đường làng, mô hình voi bành xuất hiện cùng cờ hội, nghi trượng và một biển người đứng xem. Phía sau đám rước là những mái nhà thấp, cổng làng, khoảng đất rộng và không gian ven đô còn mang đậm diện mạo của Kẻ Láng xưa.

Bộ ảnh hiện được lưu truyền dưới dạng đã phục dựng màu. Trên mép một số tấm còn nhìn thấy những mã ảnh như E.1428 G.G., E.1435 G.G. và E.1439 G.G. Các mã liên tiếp cho thấy đây nhiều khả năng là những ảnh thuộc cùng một loạt ghi chép về lễ hội. Tuy nhiên, khi chưa tìm được phiếu lưu trữ gốc ghi rõ người chụp, ngày chụp và tên từng nghi thức, việc xác định chính xác một năm cụ thể vẫn cần được thực hiện thận trọng. Có thể giới thiệu bộ ảnh thuộc những thập niên đầu thế kỷ XX, thường được cho là khoảng thập niên 1920, nhưng không nên mặc nhiên khẳng định tất cả được chụp đúng năm 1920.

Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý
Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX qua bộ ảnh tư liệu quý

Giá trị của bộ ảnh không chỉ nằm ở tuổi đời gần một thế kỷ. Qua những khuôn hình đông người, hậu thế có thể nhận ra quy mô hội Láng, cấu trúc của một đoàn rước cổ truyền, cách cư dân cùng tham gia việc làng và diện mạo vùng phía tây kinh thành Thăng Long trước quá trình đô thị hóa. Mỗi bức ảnh vì thế vừa là tư liệu về lễ hội, vừa là lát cắt về trang phục, cảnh quan, kiến trúc và đời sống xã hội của Hà Nội đầu thế kỷ XX.

Bộ ảnh được chụp vào thời gian nào?

Niên đại là vấn đề cần được làm rõ đầu tiên khi giới thiệu bộ ảnh. Căn cứ vào dạng âm bản, ký hiệu ghi trên mép ảnh, trang phục của người dự hội, kiểu mũ thuộc địa xuất hiện trong đám đông và cảnh quan làng ven đô, có cơ sở để xếp những hình ảnh này vào giai đoạn đầu thế kỷ XX. Mốc khoảng thập niên 1920 thường được nhắc đến trong quá trình lưu truyền bộ ảnh, nhưng đây mới là niên đại ước đoán khi chưa có hồ sơ kho gốc đi kèm.

Một số bưu ảnh và ảnh tư liệu khác về chùa Láng đã được chụp hoặc lưu hành trước năm 1930, cho thấy ngôi chùa và con đường dẫn vào chùa là đối tượng được các nhà nhiếp ảnh thời thuộc địa quan tâm. Tuy nhiên, sự tồn tại của những ảnh cùng thời không tự động chứng minh niên đại chính xác của bộ ảnh đang xét. Điều quan trọng là không dùng một chú thích được chia sẻ lại nhiều lần thay thế cho thông tin lưu trữ nguyên bản.

Bản màu hiện nay không phải màu nguyên gốc của ảnh

Các ảnh đầu thế kỷ XX tại Bắc Kỳ phần lớn được chụp trên âm bản đen trắng. Màu tím của áo, màu xanh của voi bành, màu đỏ của lọng hay màu da trong bộ ảnh hiện nay nhiều khả năng được thêm vào trong quá trình phục dựng bằng kỹ thuật số. Người xem vì vậy không nên coi màu sắc đang thấy là bằng chứng chính xác về màu trang phục và đồ nghi lễ trong ngày hội.

Việc màu hóa có ưu điểm là làm hình ảnh trở nên gần gũi, giúp người xem trẻ tuổi dễ hình dung đám rước hơn. Các lớp người trong ảnh được tách rõ, kiệu và nghi trượng nổi bật, cảnh quan bớt cảm giác xa cách. Tuy nhiên, màu hóa cũng có nguy cơ làm thay đổi giá trị tư liệu nếu người thực hiện tự lựa chọn màu theo tưởng tượng.

Chẳng hạn, áo dài của người tham gia hội có thể vốn mang nhiều sắc độ khác nhau, nhưng bản phục dựng lại phủ một màu tím khá đồng nhất. Những bề mặt trên voi bành, kiệu và cờ nghi trượng cũng có thể đã được tô theo suy đoán. Khi đăng tải, nên chú thích rõ “ảnh tư liệu đã được phục dựng màu” để độc giả không nhầm đây là ảnh màu chụp trực tiếp.

Một bản phục dựng tốt cần giữ nguyên bố cục, hình dáng con người, đồ vật và dấu vết của âm bản. Không nên thêm người, xóa chi tiết, dựng lại kiến trúc hoặc làm sắc nét quá mức đến mức biến đổi gương mặt và hoa văn. Giá trị quan trọng nhất của ảnh cổ không nằm ở vẻ bắt mắt, mà ở khả năng chuyển tải trung thực những gì đã hiện diện trước ống kính.

Chùa Láng trong không gian Kẻ Láng xưa

Chùa Láng có tên chữ là Chiêu Thiền tự, dân gian còn gọi là chùa Cả. Chùa hiện tọa lạc tại số 116 phố Chùa Láng, phường Láng, thành phố Hà Nội. Trước khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và sắp xếp lại đơn vị hành chính, địa điểm này thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa. Theo tư liệu địa phương, khu vực chùa vốn thuộc Trại An Lãng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức dưới thời Nguyễn.

Tên Chiêu Thiền tự được giải thích qua tấm bia “Chiêu Thiền tự tạo lệ bi” dựng năm Thịnh Đức thứ tư, tức năm 1656. Tư liệu trên bia gắn chữ “Chiêu” với điềm lành hiển hiện và chữ “Thiền” với truyền thống thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Bên cạnh chức năng của một ngôi chùa thờ Phật, nơi đây còn thờ Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông, tạo nên đặc điểm thường được gọi là không gian “tiền Phật, hậu Thánh”.

Theo tư liệu hiện còn tại di tích, chùa được tạo dựng dưới triều Lý Anh Tông, sau đó trải qua nhiều lần sửa chữa vào các năm 1656, 1666, 1869 và 1901. Như vậy, vào thời điểm bộ ảnh được chụp, chùa vừa trải qua một đợt tu sửa dưới triều Thành Thái. Một số công trình và đồ nghi lễ xuất hiện trong ảnh có thể phản ánh diện mạo của di tích sau lần chỉnh trang này, nhưng cần khảo sát riêng mới có thể xác định từng hạng mục.

Chùa Láng được xếp hạng di tích cấp quốc gia ngày 28/4/1962. Giá trị của di tích không chỉ thuộc về kiến trúc hay điêu khắc mà còn nằm trong mối liên hệ với hệ thống truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh, các ngôi chùa chung quanh và lễ hội được cư dân hai bên sông Tô Lịch duy trì qua nhiều thế hệ.

Thiền sư Từ Đạo Hạnh và nhân vật được tôn thờ trong hội Láng

Nhân vật trung tâm của lễ hội là Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một danh tăng thời Lý được nhắc đến trong thư tịch Phật giáo và nhiều truyền thuyết dân gian. Các câu chuyện về ông thường kết hợp dấu vết của một nhân vật lịch sử với yếu tố tu hành, phép thuật, báo hiếu và hóa sinh.

Theo truyền thuyết phổ biến tại vùng Láng, Từ Đạo Hạnh sinh ra ở đây, là con của Từ Vinh và Tăng Thị Loan. Sau biến cố liên quan đến người cha, ông tìm đường học đạo, rồi tu hành tại núi Sài Sơn. Dân gian còn kể rằng ông hóa sinh làm con của Sùng Hiền Hầu và về sau trở thành vua Lý Thần Tông.

Những nội dung như phép thuật, đầu thai và cuộc giao tranh với pháp sư Đại Điên thuộc phạm vi truyền thuyết, thần tích và niềm tin của cộng đồng. Không nên trình bày chúng như sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng. Dù vậy, các truyện kể này lại có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành đường rước, điểm dừng và những màn diễn xướng của hội Láng.

Trong nhận thức dân gian, Từ Đạo Hạnh vừa là Thiền sư vừa được tôn làm Thánh. Bởi thế, đoàn rước trong ảnh được gọi là rước Thánh, còn ngôi chùa vẫn duy trì các không gian thờ Phật. Sự đan xen giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ nhân vật có công hoặc có quyền năng bảo hộ là một hiện tượng từng xuất hiện tại nhiều làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ.

Hội Láng không chỉ là hội của một ngôi chùa

Quan sát lượng người trong các bức ảnh, có thể nhận thấy lễ hội chùa Láng từng có quy mô rất lớn. Hàng trăm người xuất hiện trong một khuôn hình, trong khi đoàn rước còn kéo dài ra ngoài phạm vi máy ảnh. Thành phần tham dự gồm người thực hành nghi lễ, người khiêng đồ thờ, các đội cờ, dân làng đứng xem, người già, phụ nữ và rất nhiều trẻ nhỏ.

Hội Láng trong truyền thống là lễ hội mùa xuân của một vùng dân cư rộng bên sông Tô Lịch. Các cộng đồng Láng Thượng, Láng Trung, Láng Hạ cùng nhiều làng lân cận tham gia vào hành trình nghi lễ. Đoàn rước đi qua chùa Nền, chùa Tam Huyền, chùa Duệ Tú, chùa Hoa Lăng và những địa điểm gắn với cuộc đời Từ Đạo Hạnh trong truyền thuyết.

Hồ sơ di sản cho biết các kỳ đại hội lớn trong quá khứ không nhất thiết được mở hằng năm. Có giai đoạn phải mười đến mười lăm năm mới tổ chức một kỳ lớn, thường khi đời sống yên ổn, mùa màng thuận lợi và dân cư đủ điều kiện đóng góp. Một đại hội có thể kéo dài hơn nhiều so với chương trình rút gọn trong đời sống hiện nay.

Quy mô được ghi lại trong ảnh vì vậy có thể liên quan đến một kỳ hội lớn chứ không chỉ là nghi thức thường niên. Sự hiện diện của voi bành, nhiều kiệu, hàng loạt cờ nghi trượng và số lượng người đông đảo cho thấy cộng đồng đã huy động nguồn nhân lực, vật lực đáng kể để tổ chức.

Bức ảnh đoàn rước kiệu dưới những tán cây lớn

Tấm ảnh thứ nhất tập trung vào một bộ phận của đoàn rước. Nổi bật ở giữa là một cấu trúc kiệu hoặc đồ thờ được trang trí cầu kỳ, bên trên và chung quanh có nhiều tàn lọng lớn. Hoa văn rồng, mây và các mảng chạm khắc tạo cho vật rước vẻ trang nghiêm, khác hẳn những đồ dùng thông thường trong đời sống.

Những người đứng gần kiệu mặc áo dài, một số người có trang phục trang trí hoa văn lớn ở phần thân trước. Đây có thể là những người đảm nhiệm vai trò trong đội nghi lễ, nhưng chỉ từ ảnh chưa thể xác định họ là chủ tế, bồi tế, thủ kiệu hay thành viên của một hàng đô cụ thể. Việc gắn chức danh cần dựa thêm vào sổ lệ và lời kể của cộng đồng.

Bao quanh đoàn nghi lễ là phụ nữ, đàn ông và trẻ nhỏ trong trang phục giản dị hơn. Một số người đi chân đất, phản ánh điều kiện sinh hoạt của cư dân làng xã khi ấy. Trẻ em đứng ngay cạnh người lớn và đồ rước, cho thấy lễ hội là một phần tự nhiên trong đời sống cộng đồng, không phải không gian tách biệt hoàn toàn giữa người hành lễ và người xem.

Đường rước chỉ là một lối đất tương đối hẹp. Hai bên có cây lớn và thảm cỏ, không xuất hiện nhà cửa dày đặc. Khung cảnh này giúp hình dung vùng Láng khi còn là làng ven đô với vườn cây, ruộng rau và các lối đi nối xóm với chùa.

Voi bành – hình ảnh đặc biệt của đoàn rước

Tấm ảnh thứ hai gây chú ý bởi mô hình voi lớn nằm giữa đoàn người. Trên lưng voi có bành hoặc phần trang trí giống một khoang ngồi nghi lễ. Chung quanh là các đội mang cờ, bảng và nhiều đồ nghi trượng cao vượt lên trên đám đông.

Trong hồ sơ về hội Láng, voi bành được nhắc đến như một thành phần của đoàn rước cùng với ngựa gỗ, trống, chiêng, lọng và các loại cờ. Vì vậy, vật thể trong ảnh nhiều khả năng chính là voi bành của lễ hội. Đây không phải con voi thật mà là mô hình nghi trượng được khiêng hoặc vận chuyển trong đoàn.

Hình tượng voi trong văn hóa nghi lễ thường gợi đến uy nghi, sức mạnh và phẩm trật. Khi được đưa vào một đám rước thờ Thánh có liên hệ với hoàng gia thời Lý, voi bành góp phần tạo nên vẻ trang trọng của hành trình. Tuy nhiên, ý nghĩa cụ thể của voi trong hội Láng cần được giải thích dựa trên lệ làng và cách hiểu của cộng đồng, không nên tự gán cho nó những công năng thần bí.

Điều đáng chú ý là voi bành không đứng riêng lẻ. Nó nằm trong một trật tự gồm cờ, nghi trượng, người dẫn đường, người khiêng và đông đảo dân chúng. Giá trị của hiện vật chỉ được thể hiện đầy đủ khi đặt trong tổng thể đoàn rước.

Phía trước ảnh là nhiều trẻ em đứng nhìn hoặc di chuyển tự do. Một số em dường như chưa mặc trang phục hội mà chỉ đến theo gia đình. Chi tiết này làm cho bức ảnh không chỉ có tính nghi lễ mà còn mang hơi thở đời thường, cho thấy hội là dịp cả làng cùng ra đường.

Cờ hội và nghi trượng tạo nên một “rừng biểu tượng”

Trong hai tấm ảnh chụp từ xa, phía trên đám đông là hàng loạt cột cờ và đồ nghi trượng. Có những lá cờ hình chữ nhật dài, các vật hình quạt, bảng dựng đứng và những đầu trang trí khó nhận dạng do khoảng cách xa. Chúng tạo thành một lớp hình ảnh dày đặc, khiến người xem cảm nhận được quy mô và nhịp điệu của đám rước.

Cờ hội không chỉ có chức năng làm đẹp. Trong một đoàn rước truyền thống, vị trí của từng loại cờ, bảng, bát bửu, tàn, lọng và kiệu thường được sắp xếp theo quy ước. Cách bố trí giúp người tham dự nhận biết đội hình, đồng thời tạo ra ranh giới biểu tượng chung quanh đồ thờ và kiệu Thánh.

Tuy nhiên, không nên nhìn vào hình dáng mờ trong ảnh rồi khẳng định tên gọi của từng nghi trượng. Một vật trông giống cờ lệnh có thể là bảng hiệu; một hình giống vũ khí có thể thuộc bộ bát bửu hoặc lỗ bộ. Việc nhận diện cần có ảnh gốc độ phân giải cao và đối chiếu với hiện vật còn được bảo quản tại chùa.

Số lượng cờ và nghi trượng còn cho thấy công tác chuẩn bị hội phải diễn ra từ lâu trước ngày chính hội. Các đồ vật cần được lấy ra, làm sạch, sửa chữa, trang trí và phân công người mang. Người tham gia cũng phải biết mình đứng ở đâu, đi theo nhịp nào và xử lý thế nào khi đoàn dừng hoặc đổi hướng.

Bức ảnh đám đông trước cổng cho thấy quy mô của kỳ hội

Tấm ảnh chụp toàn cảnh trước một cổng lớn là hình ảnh ấn tượng nhất về số lượng người tham dự. Đám đông phủ kín khoảng đất rộng, kéo từ tiền cảnh đến tận khu vực kiến trúc phía sau. Giữa biển người vẫn có thể nhận ra những cụm cờ và một số đồ rước nhô cao.

Cổng và các mái nhà trong ảnh có thể là một điểm di tích hoặc không gian làng nằm trên đường rước. Khi chưa xác định được góc chụp và chú thích gốc, không nên khẳng định đây chắc chắn là tam quan chùa Láng. Đoàn rước cổ truyền đi qua nhiều ngôi chùa và làng, vì vậy hình ảnh có thể được chụp tại một điểm dừng khác.

Ở tiền cảnh xuất hiện một số người đội mũ trắng kiểu thuộc địa. Bên cạnh họ là cư dân mặc áo dài, khăn vấn hoặc quần áo dân gian. Sự hiện diện đồng thời của nhiều kiểu trang phục cho thấy lễ hội diễn ra trong bối cảnh xã hội đang chuyển đổi, khi trang phục truyền thống, sản phẩm công nghiệp và ảnh hưởng của đời sống thuộc địa cùng tồn tại.

Đám đông không được ngăn cách bằng rào chắn hay các lối kiểm soát như lễ hội hiện đại. Người xem đứng rất gần đồ rước, đi lại trong khoảng trống và tụ tập thành nhiều nhóm. Điều này phản ánh hình thức tổ chức dựa nhiều vào trật tự cộng đồng, uy tín của người điều hành và những quy ước mà dân làng đã quen thuộc.

Trang phục trong bộ ảnh nói lên điều gì?

Màu sắc hiện nay không đủ tin cậy để xác định chính xác màu áo, nhưng hình dáng trang phục vẫn cung cấp nhiều thông tin. Phần lớn người trưởng thành mặc áo thân dài, quần rộng, kết hợp khăn đội đầu hoặc tóc búi. Một số người trong đội nghi lễ mặc áo có mảng hoa văn lớn, trong khi dân chúng chung quanh sử dụng trang phục đơn giản.

Quần trắng xuất hiện khá nhiều trong nhóm đứng gần kiệu. Đây có thể là một quy định về lễ phục của một số đội, cũng có thể do bản màu làm tăng độ tương phản giữa áo và quần. Cần xem ảnh đen trắng gốc trước khi kết luận về cách phối màu.

Không ít người đi chân đất. Điều đó không nhất thiết mang ý nghĩa nghi lễ mà trước hết phản ánh đời sống vật chất và thói quen đi lại tại nông thôn Bắc Bộ đương thời. Dép, guốc và giày chưa phải vật dụng được mọi người sử dụng thường xuyên, đặc biệt trong một ngày hội có đông người từ các xóm kéo đến.

Phụ nữ xuất hiện khá rõ trong cả đoàn và đám đông. Họ có thể tham gia các đội lễ, mang đồ, trông trẻ hoặc đi xem hội. Hồ sơ lễ hội hiện nay còn ghi nhận đội nữ múa sênh tiền và nhiều nhóm phục vụ nghi thức. Tuy nhiên, không nên dùng cơ cấu ngày nay để gán vai trò chính xác cho từng phụ nữ trong ảnh cổ.

Trẻ em hiện diện trong cả bốn tấm ảnh. Các em không đứng ở một khu vực riêng mà hòa vào dòng người, đôi khi ở rất gần kiệu và nghi trượng. Qua quá trình quan sát người lớn, trẻ nhỏ tiếp xúc sớm với tên gọi đồ thờ, tiếng trống, đường rước và cách ứng xử trong hội. Đây là một hình thức trao truyền văn hóa diễn ra tự nhiên trong đời sống làng.

Cảnh quan Kẻ Láng trước quá trình đô thị hóa

Bộ ảnh cho thấy một vùng Láng với mật độ xây dựng thấp. Cây cổ thụ chiếm phần lớn bầu trời, đường đi chưa trải nhựa, phía xa còn nhiều khoảng trống. Nhà cửa chủ yếu là những công trình thấp, mái ngói, nằm xen giữa cây và đất vườn.

Kẻ Láng xưa nổi tiếng là vùng trồng rau phía tây kinh thành. Đất đai màu mỡ, sông Tô Lịch và hệ thống ao hồ tạo điều kiện cho cư dân phát triển nhiều loại rau thơm. Lễ hội diễn ra trong chính không gian sản xuất ấy, khi đường rước đi qua xóm làng, vườn ruộng và các địa điểm thờ tự nằm hai bên dòng sông.

Trong ảnh, ranh giới giữa không gian thiêng và không gian sinh hoạt không hoàn toàn tách biệt. Đoàn rước đi trên con đường hằng ngày dân làng vẫn sử dụng. Trẻ em đứng trên bãi đất, người lớn tập trung dưới gốc cây, còn cổng chùa hoặc cổng làng trở thành nơi đón đoàn.

Đây là điểm khác biệt căn bản với hội Láng trong thành phố hiện đại. Ngày nay, khu vực chung quanh chùa là một phần nội đô có mật độ cư trú cao, nhiều trường học, cơ quan, cửa hàng và tuyến giao thông lớn. Đoàn rước phải thích ứng với lòng đường hẹp, phương tiện cơ giới, hệ thống cầu và yêu cầu bảo đảm an toàn.

Nhìn lại ảnh cũ vì thế không chỉ để hoài niệm một phong cảnh yên tĩnh. Bộ ảnh giúp nhận ra rằng cấu trúc lễ hội từng dựa vào một cảnh quan cụ thể. Khi cảnh quan biến đổi, nghi lễ cũng buộc phải điều chỉnh, dù cộng đồng vẫn cố gắng giữ các điểm dừng và ý nghĩa cốt lõi.

Dòng sông Tô Lịch trong cấu trúc lễ hội

Sông Tô Lịch không xuất hiện rõ trong bốn tấm ảnh đang có, nhưng giữ vị trí quan trọng trong đường rước truyền thống. Đoàn kiệu từng phải “độ hà”, tức vượt qua sông, để đến các địa điểm thờ tự bên kia bờ.

Theo mô tả trong hồ sơ di sản, những trai đinh khiêng kiệu Thánh lội qua sông Tô Lịch trên hành trình đến chùa Duệ Tú và chùa Hoa Lăng. Tuyến rước này nối các không gian gắn với quê hương, cha mẹ và những nhân vật xuất hiện trong truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh.

Nghi thức qua sông cho thấy Tô Lịch không chỉ là một dòng nước tự nhiên hay ranh giới hành chính. Trong hội Láng, con sông tham gia trực tiếp vào việc tạo nên hành trình thiêng. Việc bước xuống nước, đưa kiệu từ bờ này sang bờ kia đánh dấu sự chuyển tiếp giữa các cộng đồng và các điểm thờ.

Ở đầu thế kỷ XX, dòng sông và hai bờ có diện mạo khác xa ngày nay. Không gian ven sông còn rộng, mật độ xây dựng thấp và việc tổ chức một đoàn rước lớn có nhiều điều kiện thuận lợi hơn. Tuy nhiên, ảnh không cho phép chúng ta tự dựng lại chính xác cách kiệu được đưa qua sông trong kỳ hội được chụp.

Khi phục dựng nghi thức ở thời hiện đại, ban tổ chức phải sử dụng phương án phù hợp với môi trường, an toàn và giao thông. Bảo tồn ở đây không đồng nghĩa với việc tái hiện máy móc mọi thao tác cũ, mà là duy trì ý nghĩa kết nối hai bờ và các cộng đồng tham gia.

Trình tự chính của hội Láng trong truyền thống

Lễ hội chùa Láng gắn với những ngày đầu tháng Ba âm lịch, trong đó mùng 7 là ngày hội chính. Theo hồ sơ di sản, chuỗi nghi lễ thường được thực hành từ mùng 5 đến mùng 8 tháng Ba. Đây là thời gian truyền thống; chương trình cụ thể từng năm có thể được điều chỉnh theo kế hoạch tổ chức của địa phương.

Ngày mùng 5 có nghi thức rước Thánh lên chùa Nền, địa điểm được truyền thuyết địa phương xem là nơi sinh của Từ Đạo Hạnh. Cách diễn đạt “Thánh trở về nơi chôn rau cắt rốn” phản ánh ký ức và niềm tin của cộng đồng, không phải kết luận khảo cổ về địa điểm sinh chính xác của một nhân vật lịch sử.

Ngày mùng 6, đoàn lễ đến chùa Tam Huyền, nơi thờ Từ Vinh, người được truyền thuyết xác định là cha của Từ Đạo Hạnh. Sau đó, các đội tiếp tục chuẩn bị kiệu, lễ vật, trang phục và đồ nghi trượng cho chính hội.

Ngày mùng 7 là ngày khai hội và rước lớn. Đoàn đi qua nhiều địa điểm, thực hiện nghi thức độ hà và màn diễn “đấu thần” hay “đấu pháo” gắn với truyền thuyết về cuộc đối đầu giữa Từ Đạo Hạnh và Đại Điên. Đây là diễn xướng tín ngưỡng dựa trên truyện kể, không phải tái hiện một trận đánh lịch sử đã được chứng minh.

Ngày mùng 8 tiếp tục các hoạt động tế lễ và sinh hoạt cộng đồng. Phần hội trong quá khứ có thể gồm nhiều trò vui, biểu diễn và cuộc thi dân gian. Quy mô, thời gian và thành phần không cố định hoàn toàn mà thay đổi tùy điều kiện của từng kỳ hội.

Bộ ảnh nhiều khả năng ghi lại những thời điểm khác nhau trong một ngày rước hoặc trong cùng kỳ hội. Tấm cận cảnh kiệu, ảnh voi bành, cảnh đoàn người dưới cây và toàn cảnh trước cổng có thể thuộc các chặng trên đường đi. Khi chưa có thứ tự ảnh gốc, không nên tự ghép chúng thành một trình tự nghi lễ chính xác.

Tổ chức một đoàn rước lớn cần những lực lượng nào?

Một đoàn rước có quy mô như trong ảnh không thể hình thành chỉ trong vài ngày. Cộng đồng phải lựa chọn người khiêng kiệu, người cầm cờ, người mang nghi trượng, đội nhạc, người tế, người điều hành và lực lượng giữ đường.

Trong thực hành được ghi nhận gần đây, hội Láng có thủ kiệu, hàng đô nội, hàng đô ngoại, cai đám, đội tế, đội cờ, đội nữ múa sênh tiền, đội bát bửu, đội rồng, đội sư tử, đội trống và phường bát âm. Cơ cấu đầu thế kỷ XX có thể không hoàn toàn giống hiện nay, nhưng những vai trò cốt lõi của đoàn rước nhiều khả năng đã tồn tại.

Người khiêng kiệu cần phối hợp nhịp bước, hiểu hiệu lệnh và đủ sức đi trên một quãng đường dài. Đội mang cờ và nghi trượng phải giữ khoảng cách, tránh va chạm với cây cối hoặc mái nhà. Nhạc lễ phải biết lúc nào chuyển nhịp, dừng hoặc nổi trống khi đoàn đến một điểm thờ.

Ngoài những người xuất hiện trực tiếp, còn có lực lượng chuẩn bị phía sau: người sửa đồ thờ, may hoặc giặt trang phục, làm lễ vật, nấu ăn, tiếp đón khách và thu xếp nơi nghỉ. Nhiều gia đình có thể không có người đứng trong đoàn nhưng vẫn đóng góp công sức hoặc vật phẩm.

Chính quá trình chuẩn bị ấy làm nên tính cộng đồng của lễ hội. Hội không chỉ là vài giờ kiệu đi qua đường làng, mà là một chuỗi công việc tập thể trong đó mỗi nhóm tuổi và mỗi gia đình nhận một phần trách nhiệm.

Bộ ảnh phản ánh trật tự cộng đồng nhưng không nên lý tưởng hóa quá khứ

Nhìn đoàn rước đông đảo, người xem hôm nay dễ hình dung một cộng đồng hoàn toàn đồng thuận, mọi người đều vui vẻ và bình đẳng tham gia. Tuy nhiên, ảnh chỉ ghi lại khoảnh khắc bề mặt, không cho biết những quy định về giới tính, tuổi tác, địa vị, nghĩa vụ đóng góp hay các khác biệt bên trong làng.

Một số vị trí trong nghi lễ có thể được dành cho những dòng họ, giáp hoặc nhóm dân cư nhất định. Người được vào hàng đô hay tham gia tế thường phải đáp ứng các điều kiện do lệ làng quy định. Những quy định ấy vừa tạo trật tự cho lễ hội, vừa phản ánh cơ cấu xã hội của thời đại.

Sự có mặt của rất nhiều người nghèo, trẻ em đi chân đất và trang phục giản dị nhắc rằng đời sống cộng đồng đầu thế kỷ XX không chỉ có vẻ trang trọng của kiệu, lọng và cờ hội. Phía sau ngày hội vẫn là một xã hội nông nghiệp với điều kiện vật chất còn hạn chế.

Bởi vậy, việc khai thác ảnh cần tránh hai thái cực: hoặc nhìn quá khứ như một thế giới lạc hậu, hoặc tô vẽ thành thời kỳ hoàn toàn bình yên và thuần nhất. Bộ ảnh quý vì nó lưu giữ nhiều lớp đời sống cùng lúc, từ uy nghi của nghi lễ đến những gương mặt tò mò, mệt mỏi và rất đời thường trong đám đông.

Ảnh tư liệu và cái nhìn của người chụp thời thuộc địa

Các mã ghi ở mép ảnh gợi ý bộ hình từng thuộc một hệ thống sưu tập có đánh số. Nhiều ảnh về Bắc Kỳ thời Pháp thuộc được thực hiện phục vụ lưu trữ hành chính, khảo cứu dân tộc học, xuất bản bưu ảnh hoặc giới thiệu thuộc địa. Vì chưa xác định được hồ sơ của đúng loạt ảnh này, chỉ có thể nêu đây là một khả năng cần tiếp tục kiểm tra.

Người chụp dường như đứng ở nhiều vị trí: có lúc rất gần kiệu, có lúc ở bên đường và có khi từ một điểm cao nhìn xuống đám đông. Điều này cho thấy họ được tiếp cận khá thuận lợi với đoàn rước, có thể đã chụp có kế hoạch chứ không phải tình cờ đi ngang qua.

Mỗi bức ảnh đều phản ánh lựa chọn của người cầm máy. Họ quyết định chụp voi bành, kiệu và biển người, nhưng không cho chúng ta thấy việc chuẩn bị lễ vật, nghi thức bên trong điện thờ hay sinh hoạt của các gia đình trước ngày hội. Những gì còn lại vì thế chỉ là một phần của thực hành văn hóa.

Trong cách nhìn thuộc địa, lễ hội bản địa đôi khi được giới thiệu như một cảnh tượng lạ mắt. Khi sử dụng lại ảnh hôm nay, cần đưa cộng đồng người Việt trở về vị trí chủ thể. Những người trong ảnh không chỉ là đám đông trang trí cho một phong cảnh, mà là người tổ chức, thực hành và trao truyền lễ hội của chính họ.

Từ hội Láng trong ảnh cổ đến di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Ngày 20/12/2019, lễ hội chùa Láng được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4611/QĐ-BVHTTDL, thuộc loại hình lễ hội truyền thống. Việc ghi danh xác nhận giá trị của hệ thống nghi lễ, diễn xướng, tri thức và sự tham gia cộng đồng gắn với hội Láng.

Danh hiệu này không chỉ dành cho những đồ vật xuất hiện trong ảnh như kiệu, voi bành hay cờ hội. Di sản phi vật thể tồn tại trong kỹ năng khiêng kiệu, lời tế, âm nhạc, cách làm lễ vật, ký ức về đường rước và mối quan hệ giữa các cộng đồng.

Năm 2023, một số nghi thức từng gián đoạn trong nhiều thập niên, trong đó có rước kiệu qua sông và trình diễn đấu thần, được phục dựng với quy mô lớn. Những lần tổ chức sau tiếp tục điều chỉnh để phù hợp với không gian đô thị và yêu cầu bảo đảm an toàn.

Lễ hội năm 2026 được phường Láng tổ chức trong ba ngày, gồm các hoạt động dâng lễ, rước, tế, dâng hương, văn nghệ và trò chơi cộng đồng. Thực hành hiện nay cho thấy hội Láng không chỉ được lưu giữ trong hồ sơ hay ảnh cổ mà vẫn đang tiếp tục vận động trong đời sống của cư dân địa phương.

So sánh ảnh đầu thế kỷ XX với lễ hội hiện đại, người xem dễ nhận ra sự thay đổi của cảnh quan, trang phục và phương thức tổ chức. Tuy vậy, một số biểu tượng như kiệu, cờ, tàn lọng, voi bành và đoàn rước cộng đồng vẫn tạo nên sợi dây liên tục giữa các thế hệ.

Giá trị của bộ ảnh đối với việc nghiên cứu lễ hội

Trước hết, ảnh cung cấp bằng chứng thị giác về quy mô của hội Láng. Các mô tả bằng văn bản có thể nói rằng hội rất đông, nhưng hình ảnh biển người trước cổng và đoàn rước kéo dài giúp người xem cảm nhận cụ thể hơn.

Thứ hai, bộ ảnh lưu giữ hình dáng của đồ nghi lễ. Kiệu, tàn lọng, voi bành, bảng và cờ có thể đã được sửa chữa hoặc làm lại qua thời gian. Ảnh giúp người nghiên cứu so sánh kích thước, hoa văn và cách bố trí giữa các giai đoạn.

Thứ ba, ảnh cho thấy sự tham gia rộng rãi của cộng đồng. Phụ nữ, đàn ông, người già và trẻ em cùng xuất hiện, dù vai trò của họ khác nhau. Lễ hội được nhìn nhận như một hoạt động của cả vùng dân cư chứ không chỉ là nghi lễ của nhà chùa.

Thứ tư, đây là nguồn tư liệu quan trọng về cảnh quan Kẻ Láng. Cây cối, đường đất, kiến trúc và khoảng không trong ảnh bổ sung cho bản đồ, địa chí và ký ức truyền khẩu về một vùng làng cổ trước đô thị hóa.

Cuối cùng, bộ ảnh giúp nhận diện sự biến đổi của cách nhìn về di sản. Từ đối tượng được người chụp thời thuộc địa ghi lại như một cảnh tượng, lễ hội ngày nay được cộng đồng và cơ quan văn hóa xác định là một di sản cần bảo vệ, giải thích và trao truyền.

Những điều chưa thể kết luận chỉ từ bốn bức ảnh

Bộ ảnh rất quý nhưng không trả lời được mọi câu hỏi. Chưa thể biết chắc người chụp là ai, ngày tháng nào, đoàn rước đang đi từ đâu đến đâu và từng bức được chụp tại địa điểm cụ thể nào.

Cũng chưa thể xác định chính xác tên của tất cả các kiệu và nghi trượng. Một số đồ vật có thể còn được lưu giữ tại chùa, nhưng việc đối chiếu cần do người am hiểu hiện vật và các thành viên cộng đồng thực hành thực hiện.

Không nên suy đoán tên, chức danh hay gia đình của những người xuất hiện. Ngay cả khi hậu duệ trong làng nhận thấy gương mặt quen thuộc, việc công bố danh tính vẫn cần có tư liệu gia đình và sự thống nhất giữa các nguồn.

Màu áo, màu voi bành và màu lọng không thể dùng để kết luận về quy định lễ phục vì ảnh đã được phục dựng. Các phân tích đáng tin cậy hơn nên dựa vào hình dáng, vị trí, tỷ lệ và quan hệ giữa các nhân vật, đồ vật trong khuôn hình.

Đặc biệt, ảnh không chứng minh những câu chuyện truyền thuyết là sự kiện lịch sử. Hình ảnh kiệu Thánh và đoàn rước chỉ cho thấy cộng đồng thực hành một tín ngưỡng dựa trên ký ức và truyện kể về Từ Đạo Hạnh.

Cách chú thích bộ ảnh khi đăng tải

Khi sử dụng bộ ảnh trên website, chú thích nên trình bày rõ ba yếu tố: niên đại ước đoán, tình trạng màu hóa và mức độ xác định nguồn gốc.

Một chú thích chung phù hợp có thể viết:

“Bộ ảnh tư liệu được cho là ghi lại lễ hội chùa Láng tại vùng Kẻ Láng, Hà Nội, trong những thập niên đầu thế kỷ XX, có thể khoảng thập niên 1920. Bản hiện tại đã được phục dựng màu; năm chụp và tác giả đang tiếp tục được xác minh.”

Với ảnh kiệu, có thể chú thích:

“Đoàn rước cùng kiệu và tàn lọng trong lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX. Trang phục và màu sắc trong ảnh đã được phục dựng.”

Với ảnh voi bành:

“Mô hình voi bành cùng cờ và nghi trượng trong đoàn rước hội Láng. Voi bành là một thành phần đặc sắc được ghi nhận trong cấu trúc lễ hội truyền thống.”

Với ảnh toàn cảnh:

“Đông đảo cư dân tập trung tại một điểm trên đường rước hội Láng. Địa điểm cụ thể trong ảnh chưa được xác định chắc chắn.”

Các mã ảnh còn hiện trên mép nên được giữ lại khi có thể. Không nên cắt bỏ vì chúng có thể là manh mối giúp tra cứu kho lưu trữ và xác định thứ tự của loạt ảnh.

Gìn giữ ảnh cũng là gìn giữ ký ức cộng đồng

Bảo tồn lễ hội thường được hiểu là giữ kiệu, sửa chùa và tổ chức lại đoàn rước. Tuy nhiên, những bức ảnh cũ cũng là một bộ phận quan trọng của di sản. Chúng ghi lại các hiện vật đã đổi khác, những người thực hành không còn và cảnh quan đã biến mất.

Bản ảnh độ phân giải cao nên được lưu dưới dạng không chỉnh sửa, bên cạnh bản phục dựng màu. Thông tin về người sưu tầm, nơi tìm thấy, thời gian nhận ảnh và các ký hiệu trên âm bản cần được ghi chép đầy đủ. Một chi tiết tưởng nhỏ hôm nay có thể trở thành manh mối quan trọng cho việc xác định nguồn gốc sau này.

Ký ức của người cao tuổi tại vùng Láng cũng nên được thu thập khi xem ảnh. Họ có thể nhận ra tên gọi một đồ thờ, kiểu áo, cổng làng hoặc hướng đi của đoàn rước. Tuy nhiên, lời kể cần được ghi rõ là ký ức cá nhân và đối chiếu với các nguồn khác.

Việc phổ biến ảnh trên mạng giúp nhiều người biết đến di sản, nhưng cũng làm phát sinh tình trạng sao chép, cắt logo, đổi chú thích và gán sai niên đại. Mỗi lần đăng lại thiếu thông tin, ảnh càng xa rời bối cảnh ban đầu. Vì thế, thái độ tôn trọng tư liệu quan trọng không kém kỹ thuật phục chế.

Ý nghĩa văn hóa nhìn từ bộ ảnh gần một thế kỷ trước

Bốn bức ảnh cho thấy lễ hội chùa Láng là một không gian tập hợp cộng đồng đặc biệt. Trong ngày hội, những gia đình sống rải rác ở các xóm cùng hướng về đoàn rước, chia sẻ một hệ thống biểu tượng và câu chuyện chung.

Kiệu, cờ và voi bành biểu hiện sự trang nghiêm, nhưng sức sống của lễ hội lại nằm ở con người. Đó là những người khiêng đồ thờ, giữ nhịp đoàn rước, đứng chờ dưới cây, đưa trẻ nhỏ đi xem và cùng nhau tạo nên trật tự của ngày hội.

Lễ hội còn lưu giữ ký ức địa phương bằng cách nối các ngôi chùa và địa điểm thờ tự thành một hành trình. Mỗi điểm dừng gợi lại một phần của truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh. Qua việc đi lại trên cùng một đường rước, cộng đồng tái khẳng định quan hệ giữa con người, làng xóm, dòng sông và các không gian thiêng.

Ở một lớp nghĩa rộng hơn, bộ ảnh giúp người Hà Nội hôm nay nhận ra rằng bên dưới những con phố và khu dân cư hiện đại vẫn còn dấu vết của một vùng làng cổ. Chùa Láng không đứng riêng như một công trình giữa đô thị mà từng là trung tâm của mạng lưới văn hóa rộng lớn bên sông Tô Lịch.

Giá trị ấy không nên bị giản lược thành quan niệm cầu xin tài lộc hay những lời đồn về sự linh nghiệm. Ý nghĩa bền vững của hội Láng nằm ở lịch sử cộng đồng, nghệ thuật nghi lễ, ký ức địa phương và khả năng kết nối các thế hệ.

Kết luận

Lễ hội chùa Láng đầu thế kỷ XX hiện lên qua bộ ảnh tư liệu với kiệu Thánh, tàn lọng, voi bành, cờ nghi trượng và biển người dự hội. Đằng sau vẻ rực rỡ của bản phục dựng màu là một không gian Kẻ Láng còn nhiều cây xanh, đường đất, mái ngói và những cộng đồng làng xã gắn bó bên sông Tô Lịch.

Bộ ảnh nhiều khả năng được chụp trong những thập niên đầu thế kỷ XX, thường được nhắc đến với mốc khoảng thập niên 1920. Tuy nhiên, niên đại cụ thể, người chụp và địa điểm của từng khuôn hình vẫn cần được xác minh bằng phiếu lưu trữ gốc. Việc thừa nhận giới hạn tư liệu không làm giảm giá trị của ảnh, mà giúp quá trình giới thiệu trở nên trung thực và đáng tin cậy hơn.

Từ những khuôn hình cũ, người xem có thể nhận ra lễ hội không chỉ thuộc về chùa Láng mà là sinh hoạt văn hóa của cả một vùng. Đoàn rước kết nối nhiều điểm thờ tự, nhiều nhóm dân cư và nhiều thế hệ, đồng thời chuyển tải hệ thống truyền thuyết về Thiền sư Từ Đạo Hạnh trong đời sống cộng đồng.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, cảnh quan vùng Láng đổi thay sâu sắc, nhưng các biểu tượng và ký ức của lễ hội vẫn được tiếp nối. Gìn giữ hội Láng vì thế không chỉ là phục dựng kiệu, cờ hay đường rước. Đó còn là công việc bảo quản ảnh cổ, xác minh nguồn gốc tư liệu, lắng nghe ký ức địa phương và giúp thế hệ hôm nay hiểu đúng về một di sản lâu đời giữa lòng Hà Nội.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.425 bài viết của Chi Tran
Bài viết liên quan

Để lại bình luận