Phật giáo

Tiểu sử Phật hoàng Trần Nhân Tông

Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua nhà Trần đã thành lập ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử được gìn giữ và lưu truyền qua các thời đại.

140

Trần Nhân Tông tên khai sinh là Trần Khâm, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu Trần Thị Thiều.

Trong sử sách có ghi lại khi ngài mới sinh đã có dung mạo bậc thánh nhân, thể chất hoàng hỏa và thần khí hơn người sắc thái như vàng ròng nên được vua là Trần Thánh Tông đặt tên hiệu đó là Phật kim. Năm 16 tuổi ngài được lập là thái tử vào năm Giáp Tuất, đến năm 1274 trong cùng nắm đó thì ngài đã kết duyên cùng với công chúa Quyên Thanh. Công chúa Quyên Thanh chính là trưởng nữ của Hưng đạo Đại vương.

Vua Trần Thánh Tông đã mời những bậc trưởng lão, tinh thông nho giáo, tứ thư, ngũ kinh, Phật giáo nhằm tham gia dạy dỗ cho Trần Nhân Tông, chính Vua cha đã soạn sách di Hậu lục nhằm dạy cho thái tử về cách xử lý để đối xử về sa, để có kiến thức nhằm chuẩn bị cho việc lớn sau này đó là nối nghiệp vua Trần Thánh Tông, do đó mà ngài luôn tinh thông về mọi thứ. Đối với phật pháp ngài được học cùng với Tuệ Trung thượng sĩ và được thượng sĩ hết lòng chỉ dạy trao truyền các ý nghĩa thiện tông, ngài đã ngộ ra rất nhiều điều.

Ngài Trần Nhân Tông chính là vị hoàng đế thứ 3 của Hoàng triều Trần, khi ngài với vừa tròn 20 tuổi vào năm Mậu Dần 1278 hoang thái tử được truyền ngôn xưng đó là hoàng để hiệu đó là Hiếu Hoàng.

Năm 1279 Đức vua Trần Nhân Tông đổi niên hiệu đó là Thiệu Bảo, kế nghiệp những tiên đế nhà Trần. Theo đó, ông trị vị từ 8/11/1278 đến ngày 16/4/1293, tiếp đó đã làm Thái Thượng Hoàng cho đến khi qua đời.

Trần Nhân Tông lên ngôi và đã đưa ra rất nhiều các chính sách khoan hòa thân dân, vua lấy đức mà trị vì Đại Việt, luôn chăm lo cho dân chúng xây dựng quốc gia hoàn bình thịnh trị.

Đức vua Trần Nhân Tông có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng ngài lại có chí hướng xuất gia theo Phật nhằm cứu đời. Với ước muốn theo Phật nên ngài đã rất nhiều lần xin vua cha nhường lại ngôi thái tử để theo Phật, cho người em đó là Tá Thiên Vương Trần Đức Việp thay thế vị trí của mình. Tuy nhiên, vua cha không đồng ý bởi ông nhìn ra được khí chất cũng như tài năng của ông, nhận định được răng ông chính là người có thể trị vì thiên hạ. Cũng vì lòng yêu phật pháp nên đã có rất nhiều lần ông vượt thành trong đêm khuya đến núi Yên Tử để ẩn tu, khi đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời sáng, ông thấm mệt nên vào nghỉ ở trong tháp. Cùng lúc đó những vị tu sĩ tại chùa thấy ông có dung mạo phi thường, ánh sáng hào quang phát từ từ phía ông nên đã mời Phật hoàng Trần Nhân Tông ăn cơm cùng.

Khi Trần Thánh Tông biết được tin đã sai quân đi tìm, thỉnh cầu ông về kinh đô. Khi đó, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã phải miễn cưỡng nhận ngôi thái tử.

Thời điểm nước nhà bị đe dọa thì Trần Nhân Tông lên ngôi. Khi đó, quân Nguyên – Mông đã chinh phục hết Nam Tống, bắt đầu dòm ngó Đại Việt. Giặc Nguyên – Mông xâm lược Đại Việt vào năm 1282 ngày chủ trì Hội nghị Bình than lấy ý kiến của toàn dân, toàn dân Đại Việt, đoàn kết chống giặc ngoại xâm. Thời điểm đó ngài chính là người trực tiếp lãnh đạo quân dân Đại Việt 2 lần giành được chiến thắng quân Mông – Nguyên vào năm 1285 và năm 1288, khi đó hào khí của ngài vang đội. Sau khi giành được thành công đánh giặc ngoại xâm thì xã tắc thanh bình, nhân dân an cư lạc nghiệp, ngài cũng đã đưa ra rất nhiều các chính thức nhằm phát triển kinh tế, chính sách hòa giải khi ngài đã xóa bỏ mọi lỗi lầm trước đó của quần thần và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Năm 1293, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để lên làm Thái Thượng Hoàng. Sau khi nhường ngôi, năm 1294, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đích thân tiếp tục lãnh đạo quân sĩ Đại Việt đi chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và tiếp tục mối bang giao hòa hảo với đất nước “Triệu voi”. Sau khi quốc gia, xã tắc được bình yên, Ngài trở về hành cung Vũ Lâm (thuộc Ninh Bình ngày nay) xin xuất gia cầu đạo với Quốc sư Huệ Tuệ, khởi đầu cho sự nghiệp tu hành của người xuất gia tam giới.

Năm 1299, Ngài từ hành cung Vũ Lâm trở về kinh thành Thăng Long, rồi thẳng tiến lên núi Yên Tử (nay thuộc Uông Bí, Quảng Ninh), tinh cần tu hạnh đầu đà lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Ngài cho dựng chùa, giảng pháp, độ Tăng. Người học Phật quy tụ về Yên Tử rất đông. Đồng thời, Ngài đã thống nhất ba dòng thiền: Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường thành lập lên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử với tư tưởng nhập thế “Cư trần lạc Đạo”, “Hòa quang đồng trần” là dòng thiền mang bản sắc riêng của Đại Việt. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử được gìn giữ và lưu truyền qua các thời đại, các thế hệ Phật giáo Việt Nam mà ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam là chủ thể kế thừa tinh hoa nhập thế đồng hành cùng dân tộc.

Xuất gia tu hành chứng ngộ tinh túy của thiền tông và với tinh thần nhập thế sâu sắc, Hương Vân Đại Đầu Đà Trần Nhân Tông đã thường xuyên đi các nơi để giảng dạy Phật pháp. Ngài không chỉ ở hoằng pháp ở khắp vùng thành thị, thôn quê mà còn du lãm ra cả các vùng đất bên ngoài; không phải chỉ ở trong nước, mà còn đến cả các nước lân bang. Năm 1301, Ngài đến trại Bố Chính (nay là Lệ Thủy, Quảng Bình) lập am Tri Kiến (nay là chùa Hoằng Phúc, huyện Lệ Thủy) tu hành, nắm vững tình hình và thực hiện hành trình hóa độ cho các nước láng giềng, phía Nam tới Chiêm Thành. Quốc vương Champa rất kính cẩn thỉnh mời Ngài giảng giải giáo nghĩa thiền tông. Thông qua Phật pháp, Ngài đã tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các nước lân bang. Kết quả là vùng đất châu Ô, châu Lý tức châu Thuận, châu Hóa mới được sáp nhập vào Đại Việt do vua Chế Mân dâng làm sính lễ cưới Huyền Trân công chúa. Thiền phái Trúc Lâm cũng được hoằng hóa với sự xuất hiện của nhiều ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh cho các cư dân từ Bắc vào sinh sống trên vùng đất mới mà còn là công trình văn hóa khẳng định chủ quyền của dân tộc cùng với việc truyền bá văn hóa Đại Việt.

Tiểu sử Phật hoàng Trần Nhân Tông

Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp các địa phương, xóm làng trong nước để khuyến khích muôn dân giữ gìn năm giới, tu hành thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không đúng chính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan, xây dựng chính tín. Mùa đông cùng năm đó, vua Trần Anh Tông dâng biểu thỉnh mời Điều Ngự vào đại nội trong cung để truyền giới Bồ tát cho các vương công, bá quan văn võ, quần thần.

Năm 1307, niên hiệu Hưng Long thứ 15, tại am núi Ngọa Vân, trong số các đệ tử là thiền sư Pháp Loa, Bảo Sát, Bão Phác, Pháp Không, Pháp Cổ, Huệ Nghiêm, Pháp Tràng, Hương Tràng, Hương Sơn, Mật Tạng…, Đức Điều ngự Trần Nhân Tông đã trao truyền y bát và viết tâm kệ trao cho Tôn giả Pháp Loa làm nối dõi truyền thừa Trúc Lâm.

Năm 1308, ngày mùng 1 tháng giêng năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, tại Cam Lộ đường chùa Siêu Loại (nay là Gia Lâm, Hà Nội), Điều Ngự Trần Nhân Tông đã trao chức vụ trụ trì chùa Báo Ân cho Ngài Pháp Loa và truyền tâm ấn phong làm Đệ nhị Tổ Trúc Lâm trước sự chứng kiến của vua Trần Anh Tông. Đức Điều Ngự trở thành Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới các chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm Bắc Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp và chứng minh các lễ hội.

Ngày mùng Một, tháng 11 năm Mậu Thân – 1308, Sơ Tổ Điều Ngự Trần Nhân Tông nhập diệt tại đỉnh Ngoạ Vân, am Tử Tiêu, núi Yên Tử, thọ thế 51 năm. Theo các sách cổ sử, Ngài Bảo Sát phụng theo di chúc hỏa thiêu Điều Ngự để lại hàng ngàn hạt xá lỵ. Đệ nhị Tổ Pháp Loa và vua Trần Anh Tông cung rước ngọc cốt và xá lỵ về kinh thành cử hành quốc lễ tôn thánh hiệu là: “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”. Xá lỵ sau đó được chia thành nhiều phần được tôn trí tại Ngọa Vân Am, và Huệ Quang Kim Tháp hay còn gọi là Tháp Tổ tại chùa Hoa Yên, non thiêng Yên Tử (Quảng Ninh). Ngoài ra, xá lỵ còn được tôn thờ ở các nơi khác là trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, tôn giáo dưới thời nhà Trần như ở tháp Đại Thắng Tư Thiên tức tháp Báo Thiên ở kinh thành Thăng Long (Hà Nội), Lăng Quy Đức phủ Long Hưng (Thái Bình), Tháp Phổ Minh thuộc Phủ Thiên Trường (Nam Định).

Trong sự nghiệp hoằng dương chính pháp, Sơ Tổ Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã chủ trì cho khắc in Đại Tạng kinh và biên soạn kinh sách, ngữ lục. Qua đó, Ngài đã để lại cho hậu thế kho tàng pháp bảo vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tông thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung Hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….Cốt lõi nhất là bài kệ Pháp thân thường trụ trước khi nhập diệt Ngài nói cho đệ tử hầu cận là Thiền sư Bảo Sát: “ Nhất thiết pháp bất sinh; Nhất thiết pháp bất diệt; Nhược năng như thị giải; Chư Phật thường tại tiền; Hà khứ lai chi hữu”. Được dịch nghĩa là: “Tất cả pháp không sinh; Tất cả pháp không diệt; Ai hiểu được như vậy; Thì chư Phật hiện tiền; Nào có đến có đi”.

Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông là vị hoàng đế anh minh, lãnh tụ thiên tài, anh hùng dân tộc. Ngài là nhà văn hóa lớn, nhà tư tưởng lớn, đồng thời là nhà tu hành giác ngộ đã để lại hệ thống tư tưởng đặc sắc về Phật giáo. Người sáng lập nền Phật giáo Trúc Lâm và dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử được các thế hệ nhân dân ta tôn xưng là Vua Phật Việt Nam.

Nam Mô Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật Tác Đại Chứng minh.

0 ( 0 bình chọn )

Văn hóa tâm linh
https://vanhoatamlinh.com
Tìm hiểu về văn hóa tâm linh của người Việt từ xưa tới nay. Phong tục tập quán, tín ngưỡng (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Đạo Mẫu).
Ý kiến bạn đọc (0)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài liên quan
Bài viết mới
Xem thêm