Khám phá phong tục tập quán đặc sắc của người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ qua nhà sàn, cưới hỏi, lễ Tết, tín ngưỡng và ẩm thực.
Thanh Sơn là một trong những vùng cư trú lâu đời và tập trung của người Mường trên đất Phú Thọ. Trong không gian núi đồi, ruộng nước, khe suối và những bản làng xen giữa thung lũng, cộng đồng người Mường nơi đây đã tạo dựng một đời sống văn hóa phong phú, thể hiện qua tiếng nói, nhà sàn, trang phục, ẩm thực, nghi lễ gia đình, tín ngưỡng dân gian, cồng chiêng, đâm đuống và nhiều hình thức diễn xướng cộng đồng.
Phong tục tập quán của người Mường ở Thanh Sơn không phải là một hệ thống bất biến. Giữa các làng, các dòng họ và từng khu vực như Võ Miếu, Cự Đồng, Hương Cần, Yên Sơn hay Khả Cửu có thể tồn tại những khác biệt về tên gọi, trình tự nghi lễ và mức độ bảo lưu. Nhiều phong tục ngày nay cũng đã được giản lược để phù hợp với đời sống hiện đại, pháp luật và các quy ước xây dựng nếp sống văn minh.

Bởi vậy, việc tìm hiểu văn hóa Mường Thanh Sơn cần đặt các nghi lễ và quan niệm trong bối cảnh lịch sử của cộng đồng. Những điều thuộc tín ngưỡng dân gian nên được nhìn nhận như cách người xưa lý giải thế giới, giáo dục con cháu và duy trì sự gắn kết, không nên diễn giải thành những hiện tượng có thể kiểm chứng bằng khoa học hay dùng để cổ súy mê tín.
Không gian văn hóa Mường Thanh Sơn trong địa giới hiện nay
Tên gọi “Thanh Sơn” trong đời sống văn hóa thường chỉ một vùng rộng tương ứng với địa bàn huyện Thanh Sơn trước đây, chứ không giới hạn trong xã Thanh Sơn hiện nay. Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, toàn bộ khu vực huyện Thanh Sơn cũ được tổ chức thành các xã Thanh Sơn, Võ Miếu, Văn Miếu, Cự Đồng, Hương Cần, Yên Sơn và Khả Cửu. Chẳng hạn, xã Thanh Sơn mới được hình thành từ thị trấn Thanh Sơn cùng các xã Sơn Hùng, Giáp Lai, Thạch Khoán và Thục Luyện; xã Cự Đồng gồm các xã cũ Tất Thắng, Thắng Sơn và Cự Đồng; xã Khả Cửu gồm Đông Cửu, Thượng Cửu và Khả Cửu.
Việc xác định rõ phạm vi này đặc biệt cần thiết từ khi tỉnh Phú Thọ mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Trong bài viết, “người Mường ở Thanh Sơn, Phú Thọ” được hiểu là cộng đồng Mường sinh sống trên vùng Thanh Sơn lịch sử thuộc tỉnh Phú Thọ trước đây. Cách gọi ấy vẫn có ý nghĩa về địa lý văn hóa, ký ức cộng đồng và bản sắc địa phương.
Trước khi sắp xếp địa giới, Thanh Sơn là địa bàn miền núi có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Mường chiếm hơn một nửa dân số ở nhiều thời điểm thống kê. Mức độ tập trung không đồng đều giữa các xã. Có nơi người Mường sống xen cư với người Kinh, Dao và các dân tộc khác; cũng có những vùng tỷ lệ người Mường rất cao. Xã Khả Cửu hiện nay, chẳng hạn, được ghi nhận có hơn 90% dân số là người Mường, vì vậy còn lưu giữ tương đối rõ nhà sàn và nhiều yếu tố văn hóa bản địa.
Sự giao lưu lâu dài giữa các dân tộc giúp đời sống văn hóa Thanh Sơn trở nên đa dạng. Nhiều gia đình Mường vẫn nói tiếng Mường trong sinh hoạt, duy trì cỗ truyền thống, tham gia đội cồng chiêng và thực hành nghi lễ tổ tiên, đồng thời tiếp nhận cách tổ chức cưới hỏi, tang lễ, nhà ở và sinh hoạt kinh tế của xã hội hiện đại.
Bản Mường và quan hệ cộng đồng
Không gian bản làng gắn với núi, ruộng và nguồn nước
Người Mường ở Thanh Sơn thường lập làng tại những khu vực có đất canh tác, nguồn nước và địa hình thuận lợi cho việc cư trú. Nhà ở có thể tập trung thành từng cụm hoặc trải dọc theo chân đồi, thung lũng và đường giao thông. Môi trường ấy phù hợp với lối sống kết hợp trồng lúa nước, làm nương, chăn nuôi, khai thác lâm sản và sử dụng những sản vật theo mùa.

Trong ký ức dân gian vùng Mường có câu khái quát nếp sống: “Cơm xôi, nhà gác, nước vác, lợn thui”. Câu nói không phải khuôn mẫu áp dụng cho mọi gia đình nhưng gợi lên bốn hình ảnh tiêu biểu: thói quen dùng gạo nếp, nhà sàn, việc dẫn hoặc gánh nước từ nguồn và cách chế biến thịt trong các dịp cộng đồng. Tư liệu lịch sử địa phương tại Cự Đồng cũng ghi nhận câu nói này khi giới thiệu đời sống của cư dân Mường.
Bản làng là nơi cư trú, đồng thời là một cộng đồng đạo lý. Người dân cùng sử dụng đường đi, nguồn nước, bãi chăn thả, rừng và không gian sinh hoạt chung. Những công việc lớn như làm nhà, cưới hỏi, tang ma, thu hoạch hay tổ chức lễ hội thường nhận được sự giúp đỡ của họ hàng và hàng xóm.
Tinh thần tương trợ giữa các gia đình
Quan hệ họ hàng có vị trí quan trọng trong xã hội truyền thống của người Mường. Mỗi người thuộc về gia đình nhỏ và gắn với dòng họ, bên nội, bên ngoại và mạng lưới bà con trong bản. Khi một nhà có việc, người thân thường đến góp công, góp thực phẩm, chuẩn bị bếp núc, đón khách hoặc hỗ trợ những phần việc phù hợp.
Trong đám cưới, sự hiện diện của họ hàng thể hiện sự công nhận đối với cuộc hôn nhân. Trong đám tang, việc cộng đồng đến chia buồn và giúp đỡ gia chủ mang ý nghĩa san sẻ mất mát. Đến các dịp Tết, lễ cơm mới hay ngày hội, quan hệ cộng đồng lại được làm mới qua lời chúc, bữa cơm và những cuộc gặp gỡ.
Nhà sàn trong đời sống người Mường Thanh Sơn
Cấu trúc thích ứng với môi trường
Nhà sàn là một trong những hình ảnh tiêu biểu nhất của văn hóa Mường. Kiểu nhà này tạo mặt sàn sinh hoạt cao hơn mặt đất, giúp hạn chế ẩm thấp, côn trùng và ảnh hưởng của địa hình miền núi. Phần dưới sàn trước kia có thể dùng để chứa công cụ sản xuất, củi, nông sản hoặc phục vụ một số hoạt động gia đình.
Ngôi nhà truyền thống thường được dựng bằng những vật liệu sẵn có như gỗ, tre, nứa, lá hoặc vật liệu lợp phù hợp với địa phương. Không gian trên sàn được phân chia theo chức năng: nơi tiếp khách, chỗ ngủ, bếp, khu vực sinh hoạt chung và nơi thờ cúng tổ tiên.
Cấu trúc cụ thể có thể thay đổi theo điều kiện kinh tế, quy mô gia đình và từng vùng. Vì vậy, không nên cho rằng mọi nhà sàn Mường đều có cùng số gian, cùng hướng cầu thang hoặc cùng cách bố trí bàn thờ.
Ngôi nhà là không gian truyền dạy văn hóa
Trong nhà sàn, nhiều thế hệ cùng ăn ở, lao động và tham gia nghi lễ. Trẻ nhỏ học tiếng Mường qua lời nói của ông bà, học cách mời cơm, tiếp khách, chuẩn bị thức ăn và ứng xử với họ hàng. Những câu chuyện về nguồn gốc gia đình, bản làng, thần linh và tổ tiên cũng thường được kể trong không gian này.
Bếp không đơn thuần là nơi nấu ăn. Đây còn là nơi các thành viên quây quần, chế biến món ăn ngày Tết, sấy khô một số sản vật và trao đổi những việc trong nhà. Vào mùa lạnh, bếp tạo nên trung tâm ấm áp của đời sống gia đình.
Nhà sàn rộng cũng có thể trở thành nơi tụ họp, tập luyện cồng chiêng, trưng bày hiện vật hoặc đón khách tìm hiểu văn hóa. Tại Cự Đồng, một số nhà bảo tồn văn hóa Mường được xây dựng và duy trì nhằm lưu giữ trang phục, dụng cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt cùng các hình thức trình diễn dân gian.
Phong tục cưới hỏi
Hôn nhân là việc của hai gia đình và hai họ
Trong xã hội Mường truyền thống, hôn nhân là mối quan hệ giữa đôi nam nữ và tạo nên sự gắn bó giữa hai gia đình, hai dòng họ. Vì vậy, cưới hỏi thường trải qua nhiều cuộc gặp gỡ để đôi bên tìm hiểu gia cảnh, thống nhất lễ vật và lựa chọn thời điểm tổ chức.
Tư liệu về tục cưới của người Mường tại Phú Thọ ghi nhận các bước với tên gọi như khảo thiêng, tức ướm hỏi; tỉ chầu năm, thường được hiểu là dạm ngõ; ti chầu cả, tương ứng với lễ ăn hỏi; và lễ đón dâu hay mừng cưới. Cách phát âm, cách phiên âm và nội dung cụ thể của từng bước có thể khác giữa các vùng Mường, do đó không nên xem những tên gọi này là quy trình duy nhất áp dụng cho tất cả các gia đình Thanh Sơn.
Người làm mối hoặc người đại diện hai họ cần có khả năng ăn nói, hiểu lễ nghĩa và biết điều hòa quan hệ. Các cuộc trao đổi không đơn thuần bàn về vật chất mà còn thể hiện thái độ tôn trọng giữa nhà trai và nhà gái.
Lễ vật và ý nghĩa biểu tượng
Lễ vật cưới trước kia có thể gồm gạo, thịt, rượu, trầu cau, bánh và những sản phẩm quen thuộc với đời sống địa phương. Số lượng và thành phần phụ thuộc điều kiện mỗi gia đình cũng như thỏa thuận giữa hai bên.
Lễ vật mang ý nghĩa chia sẻ trách nhiệm tổ chức cỗ bàn, bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ cô dâu và báo cáo với tổ tiên. Không nên diễn giải lễ vật như việc “mua” cô dâu. Những yêu cầu quá nặng về sính lễ, nếu từng tồn tại ở một số nơi, hiện không còn phù hợp với tinh thần bình đẳng, tự nguyện và tiết kiệm.
Trong ngày đón dâu, đại diện hai họ thực hiện những lời chào hỏi, giới thiệu thành viên và dặn dò đôi vợ chồng trẻ. Cô dâu được đưa về nhà chồng trong sự chứng kiến của họ hàng, sau đó làm lễ trước bàn thờ tổ tiên tùy phong tục từng gia đình.
Tín ngưỡng thờ tổ tiên, Vua Hùng và Tản Viên Sơn Thánh
Thờ cúng tổ tiên trong gia đình
Thờ cúng tổ tiên là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của nhiều gia đình Mường Thanh Sơn. Bàn thờ thường được đặt tại vị trí trang trọng trong nhà. Vào dịp Tết, ngày giỗ, lễ cơm mới, cưới hỏi hoặc khi gia đình có việc lớn, con cháu chuẩn bị lễ vật để tưởng nhớ người đã khuất.
Ý nghĩa cốt lõi của việc thờ tổ tiên là ghi nhớ nguồn gốc, bày tỏ lòng biết ơn và nhắc nhở con cháu sống có trách nhiệm. Lễ vật không quyết định lòng thành và không có cơ sở để khẳng định mâm cúng lớn sẽ mang lại nhiều may mắn hơn.
Một số gia đình kết hợp thờ tổ tiên với việc thờ thần bếp, thổ công hoặc những vị thần gắn với đất đai và bản làng. Cách sắp đặt bàn thờ, bài trí lễ vật và lời khấn có thể khác nhau theo từng dòng họ.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Do sinh sống trong không gian văn hóa Đất Tổ, người Mường Thanh Sơn có mối liên hệ sâu sắc với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Trong ký ức và truyền thuyết địa phương, nguồn gốc cộng đồng được đặt trong mạch chuyện dựng nước, lập làng và khai phá núi rừng.
Vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, nhiều đội văn nghệ Mường tham gia biểu diễn cồng chiêng, đâm đuống và các điệu múa dân gian tại khu vực Đền Hùng hoặc trong hoạt động văn hóa của địa phương. Sự tham gia ấy vừa thể hiện lòng hướng về nguồn cội chung, vừa giới thiệu bản sắc Mường trong không gian văn hóa Phú Thọ.
Cần phân biệt giữa tín ngưỡng đang được cộng đồng thực hành với những câu chuyện truyền thuyết dùng để giải thích nguồn gốc. Truyền thuyết có giá trị về biểu tượng và ký ức văn hóa, nhưng không nên đồng nhất hoàn toàn với dữ kiện lịch sử đã được khảo chứng.