Danh sách đình, đền, chùa ở quận Bắc Từ Liêm cũ, sắp xếp theo 13 phường trước khi Hà Nội điều chỉnh địa giới hành chính.
Quận Bắc Từ Liêm trước đây nằm ở cửa ngõ phía tây bắc của nội thành Hà Nội, gồm nhiều làng cổ hình thành dọc sông Hồng, sông Nhuệ và các tuyến giao thông nối kinh thành Thăng Long với vùng xứ Đoài. Trước khi đơn vị hành chính cấp quận kết thúc hoạt động, Bắc Từ Liêm có 13 phường: Thượng Cát, Liên Mạc, Thụy Phương, Tây Tựu, Minh Khai, Phú Diễn, Phúc Diễn, Đông Ngạc, Đức Thắng, Xuân Đỉnh, Xuân Tảo, Cổ Nhuế 1 và Cổ Nhuế 2.
Trên địa bàn từng tồn tại một hệ thống di tích phong phú gồm đình, đền, chùa, miếu, quán, văn chỉ, nhà thờ danh nhân, nhà thờ họ, địa điểm cách mạng và các công trình tín ngưỡng khác. Trong đó, đình, đền và chùa là ba loại hình tiêu biểu, phản ánh lịch sử hình thành làng xã, tín ngưỡng Thành hoàng, tục thờ người có công và đời sống Phật giáo của cư dân địa phương.
Bài viết này liệt kê những đình, đền, chùa có tên riêng đã được xác định trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm theo địa giới trước ngày 1/7/2025. Mỗi địa điểm chỉ được giới thiệu khái quát vì nhiều di tích đã hoặc sẽ có bài viết riêng. Những tên gọi khác nhau nhưng cùng chỉ một cơ sở thờ tự được gộp thành một mục để tránh tính trùng.
Phạm vi của danh sách
Các thống kê qua từng thời điểm cho biết quận Bắc Từ Liêm cũ có khoảng 135–136 di tích thuộc nhiều loại hình. Con số đó không đồng nghĩa có 135–136 đình, đền và chùa, bởi còn bao gồm miếu, am, quán, văn chỉ, nhà thờ họ, nhà thờ danh nhân, địa điểm khảo cổ và di tích cách mạng kháng chiến.

Trong phạm vi bài viết này, danh sách gồm 55 đình, đền và chùa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội có tên riêng đã được đối chiếu từ hồ sơ xếp hạng, danh mục di tích, thông tin của cơ quan địa phương và các tư liệu giới thiệu di sản. Danh sách được sắp xếp theo 13 phường cũ để thuận tiện tra cứu.
Các nguyên tắc được áp dụng gồm:
- Một công trình có nhiều tên gọi chỉ được tính một lần.
- Đình Chèm còn được gọi là đền Chèm nhưng được xếp trong nhóm đình.
- Chùa có tên Nôm, tên làng và tên chữ được ghi chung trong một mục.
- Miếu, quán, phủ, văn chỉ, nhà thờ họ và nhà thờ danh nhân không được đưa vào danh sách chính.
- Cơ sở Phật giáo mới, am tư gia hoặc địa điểm chưa xác định được tên gọi chính thức không được tính.
- Địa chỉ được phân loại theo 13 phường của quận Bắc Từ Liêm trước khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.
Đình, đền, chùa ở phường Thượng Cát cũ
Phường Thượng Cát cũ nằm ở phía bắc quận Bắc Từ Liêm, ven sông Hồng. Trên địa bàn có các làng Thượng Cát và Đông Ba, mỗi làng đều bảo lưu những công trình tín ngưỡng riêng.
Đình, đền, chùa ở phường Liên Mạc cũ
Liên Mạc cũ gồm nhiều làng ven sông như Đại Cát, Yên Nội, Hoàng Liên và Hoàng Xá. Đây là một trong những phường có số lượng đình, đền, chùa nhiều nhất của quận Bắc Từ Liêm trước đây.
Đình, đền, chùa ở phường Thụy Phương cũ
Thụy Phương cũ có làng Chèm nằm bên bờ nam sông Hồng. Đình và chùa Chèm là hai công trình quan trọng nhất trong hệ thống di tích của phường.
Đình, đền, chùa ở phường Tây Tựu cũ
Tây Tựu nổi tiếng với nghề trồng hoa và hội bơi Đăm. Hệ thống di tích của phường tập trung tại các khu vực Tây Tựu và Trung Tựu.
Đình, đền, chùa ở phường Minh Khai cũ
Minh Khai cũ bao gồm các làng Nguyên Xá, Văn Trì, Phúc Lý và Ngọa Long. Đây là khu vực có nhiều cụm đình – chùa được hình thành tương ứng với từng làng.
Danh sách đầy đủ đình, đền, chùa Bắc Từ Liêm
- Đình Thượng Cát. Đình Thượng Cát là ngôi đình chính của làng Thượng Cát, thờ các vị Thành hoàng được thần tích địa phương gắn với thời Hai Bà Trưng. Đình là trung tâm tế lễ, hội họp và tổ chức những sinh hoạt cộng đồng truyền thống của làng.
- Chùa Thượng Cát. Chùa Thượng Cát còn có tên gọi chùa Kỳ Vũ. Đây là ngôi chùa thờ Phật của làng Thượng Cát, nằm trong cụm không gian văn hóa gần đình và đền của địa phương.
- Đền Thượng Cát. Đền Thượng Cát là một cơ sở tín ngưỡng riêng, không đồng nhất với đình Thượng Cát. Một số tư liệu địa phương gọi công trình này bằng những tên khác nhau, liên quan đến không gian thờ nhiều lớp tín ngưỡng truyền thống.
- Đình Đông Ba. Đình Đông Ba là nơi thờ Thành hoàng và tổ chức sinh hoạt cộng đồng của làng Đông Ba. Di tích góp phần lưu giữ lịch sử hình thành của một cộng đồng cư trú ven sông Hồng.
- Chùa Đông Ba. Chùa Đông Ba được ghi trong danh mục di tích với tên chùa Sùng Ân; tên chữ thường được nhắc đến là Sùng Phúc tự. Đây là ngôi chùa cổ của cộng đồng Đông Ba và không nên tách các tên gọi trên thành nhiều địa điểm khác nhau.
- Đền Đông Ba. Đền Đông Ba là cơ sở thờ tự độc lập của làng Đông Ba. So với đình và chùa cùng làng, thông tin phổ biến về ngôi đền này còn tương đối ít, vì vậy cần tham khảo hồ sơ địa phương khi viết bài riêng.
- Đình Đại Cát. Đình Đại Cát là nơi thờ Thành hoàng và sinh hoạt cộng đồng của làng Đại Cát. Tên làng mang ý nghĩa tốt lành, đồng thời lưu giữ dấu vết của lịch sử cư trú lâu đời tại khu vực ven sông.
- Chùa Đại Cát. Chùa Đại Cát là ngôi chùa thờ Phật của làng Đại Cát. Chùa cùng với đình tạo thành cụm di tích tiêu biểu, thể hiện sự tồn tại song song giữa Phật giáo và tín ngưỡng Thành hoàng trong làng xã Bắc Bộ.
- Đình Yên Nội. Đình Yên Nội là nơi thờ các vị Thành hoàng của làng Yên Nội. Di tích còn gắn với hội vật và truyền thống thượng võ của cộng đồng địa phương.
- Chùa Yên Nội. Chùa Yên Nội có tên chữ Khánh Quang tự. Chùa nằm gần đình Yên Nội nhưng là một cơ sở Phật giáo riêng, có không gian thờ Phật, thờ Tổ và các ban thờ thường gặp trong chùa Bắc Bộ.
- Đền Bà Chúa Túc Trinh. Đền thờ Bà Chúa Túc Trinh gắn với truyền tụng về một công chúa nhà Trần có công đối với cư dân địa phương. Những chi tiết về thân thế và hành trạng của bà chủ yếu được lưu truyền qua thần tích, cần phân biệt với dữ kiện lịch sử đã được xác nhận.
- Đình Hoàng Liên. Đình Hoàng Liên là trung tâm tín ngưỡng Thành hoàng và sinh hoạt chung của làng Hoàng Liên. Công trình phản ánh cấu trúc tổ chức truyền thống của một làng Việt cổ ven sông.
- Chùa Hoàng Liên. Chùa Hoàng Liên thường được nhắc đến với tên chùa Già Lê trong các danh mục địa phương. Hai tên gọi này được hiểu là cùng chỉ ngôi chùa của cộng đồng Hoàng Liên, không phải hai chùa riêng biệt.
- Đình Hoàng Xá. Đình Hoàng Xá là nơi thờ Thành hoàng của làng Hoàng Xá. Đình từng giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức tế lễ, hội họp và duy trì những quy ước chung của cộng đồng.
- Chùa Hoàng Xá. Chùa Hoàng Xá là ngôi chùa của làng Hoàng Xá. So với nhiều di tích đã được xếp hạng quốc gia, tư liệu công khai về ngôi chùa này chưa nhiều, nhưng chùa vẫn là một bộ phận của không gian văn hóa làng.
- Đình Chèm. Đình Chèm còn được gọi là đền Chèm, đền Lý Hiệu Úy hoặc Thụy Hương từ. Di tích thờ Đức Thánh Chèm Lý Ông Trọng theo thần tích và truyền thống địa phương, đồng thời đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
- Chùa Chèm. Chùa Chèm có tên chữ Hàm Long tự, là ngôi chùa thờ Phật của làng Chèm. Chùa nằm trong không gian văn hóa gần đình Chèm nhưng có chức năng, đối tượng thờ và nghi thức riêng.
- Đình Tây Tựu. Đình Tây Tựu thường được gọi là đình Đăm, là trung tâm của lễ hội bơi Đăm truyền thống. Lễ hội thể hiện đặc trưng văn hóa sông nước, tinh thần thượng võ và khả năng phối hợp cộng đồng của cư dân địa phương.
- Đình Trung Tựu. Đình Trung Tựu là ngôi đình của cộng đồng Trung Tựu. Đình thờ Thành hoàng, lưu giữ đồ thờ, tư liệu và những ký ức liên quan đến lịch sử hình thành làng.
- Chùa Hưng Khánh. Chùa Hưng Khánh là ngôi chùa cổ tại khu vực Tây Tựu, gắn với đời sống Phật giáo của cư dân làng Đăm. Chùa cần được phân biệt với đình Tây Tựu và miếu Tây Tựu nằm trong cùng không gian văn hóa.
- Đình Nguyên Xá. Đình Nguyên Xá là nơi thờ Thành hoàng và tổ chức sinh hoạt cộng đồng của làng Nguyên Xá. Đình có quan hệ không gian và nghi lễ với miếu Đồng Cổ , nhưng hai công trình là hai di tích khác nhau.
- Chùa Thanh Lâm. Chùa Thanh Lâm là ngôi chùa của làng Nguyên Xá. Chùa cùng với miếu Đồng Cổ và các dấu tích khảo cổ quanh làng cho thấy khu vực này có lịch sử cư trú và sinh hoạt văn hóa lâu đời.
- Đình Văn Trì. Đình Văn Trì thờ thần Đồng Cổ theo truyền thống của địa phương. Di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật, tư liệu và dấu ấn kiến trúc có giá trị đối với việc tìm hiểu lịch sử làng Văn Trì.
- Chùa Văn Trì. Chùa Văn Trì có tên chữ Bồ Đề tự. Chùa thờ Phật, còn bảo lưu tượng pháp, chuông, khánh và nhiều đồ thờ được tạo tác qua các giai đoạn khác nhau.
- Đền Bà Văn Trì. Đền Bà nằm trong không gian văn hóa của làng Văn Trì, gần khu vực đình và chùa. Tên gọi chính thức và đối tượng thờ trong một số tư liệu công khai chưa được trình bày hoàn toàn thống nhất, vì vậy bài viết riêng cần căn cứ hồ sơ tại địa phương.
- Đình Phúc Lý. Đình Phúc Lý là nơi thờ Thành hoàng của làng Phúc Lý. Đình vừa là cơ sở tín ngưỡng, vừa là địa điểm sinh hoạt chung và tưởng nhớ các bậc tiền nhân của cộng đồng.
- Chùa Phúc Lý. Chùa Phúc Lý là ngôi chùa thờ Phật của làng Phúc Lý. Cụm đình – chùa Phúc Lý thể hiện mô hình tổ chức không gian tín ngưỡng phổ biến tại các làng cổ vùng Từ Liêm.
- Đình Ngọa Long. Đình Ngọa Long là ngôi đình của làng Ngọa Long. Tên làng đôi khi được ghi thành Ngoạ Long trong các văn bản, nhưng đều chỉ cùng một địa danh.
- Chùa Bồ Đề ở Ngọa Long. Chùa Bồ Đề còn được gọi là chùa Ngọa Long, là ngôi chùa thờ Phật của làng. Cần phân biệt chùa này với chùa Văn Trì cũng có tên chữ Bồ Đề tự và với chùa Bồ Đề nổi tiếng ở khu vực Long Biên.
- Đình Phú Diễn. Đình Phú Diễn là nơi thờ vị Thành hoàng thuộc hệ thống Bạch Hạc Tam Giang theo thần tích địa phương. Đình là trung tâm của lễ hội làng và từng gắn với nghi thức lấy nước từ giếng cổ.
- Chùa Phú Diễn. Chùa Phú Diễn thường được gọi là chùa Bụt Mọc. Đây là ngôi chùa thờ Phật của làng Phú Diễn, nằm trên khu đất tương đối cao và có cảnh quan cây xanh truyền thống.
- Đình Kiều Mai. Đình Kiều Mai là nơi thờ Thành hoàng Đào Trường theo thần tích địa phương. Đình đặc biệt gắn với lễ kết chạ Kiều Mai – Phú Mỹ, thể hiện quan hệ giao hảo lâu đời giữa hai cộng đồng.
- Chùa Kiều Mai. Chùa Kiều Mai có tên chữ Lưu Bái tự. Chùa nằm trên đường Phúc Diễn, là nơi thờ Phật và sinh hoạt tôn giáo của người dân Kiều Mai cùng khu vực lân cận.
- Đình Đức Diễn. Đình Đức Diễn là ngôi đình của cộng đồng Đức Diễn, thờ Thành hoàng và tổ chức lễ hội làng. Di tích đã được tu bổ trong những năm gần đây nhằm bảo vệ các hạng mục kiến trúc truyền thống.
- Chùa Đức Diễn. Chùa Đức Diễn có tên chữ Sùng Khánh tự. Chùa thờ Phật, có hệ thống tượng pháp và đồ thờ phản ánh nhiều lớp lịch sử của ngôi chùa làng Bắc Bộ.
- Đình Đình Quán. Đình Đình Quán là nơi thờ Thành hoàng của làng Đình Quán. Tên gọi có hai chữ “đình” vì chữ thứ nhất chỉ loại hình công trình, còn “Đình Quán” là tên riêng của làng.
- Chùa Đình Quán. Chùa Đình Quán có tên chữ Phúc Quang tự, đồng thời còn được nhắc đến với tên Bà Bông tự. Đây là một cơ sở Phật giáo cổ, hiện còn duy trì nhiều hoạt động tu học và sinh hoạt cộng đồng.
- Đình Đông Ngạc. Đình Đông Ngạc thường được gọi là đình Vẽ, theo tên Nôm Kẻ Vẽ của làng. Đình thờ các vị Thành hoàng, đồng thời tưởng niệm những người có công xây dựng và tu sửa di tích.
- Chùa Đông Ngạc. Chùa Đông Ngạc thường được gọi là chùa Vẽ, tên chữ phổ biến là Tư Khánh tự; một số tư liệu ghi Tự Khánh. Đây là cùng một ngôi chùa, không nên tách thành hai địa điểm khác nhau.
- Đình Nhật Tảo. Đình Nhật Tảo là nơi thờ Thành hoàng của làng Nhật Tảo. Di tích đặc biệt được biết đến nhờ lưu giữ quả chuông có niên đại năm 948, một hiện vật quan trọng đã được công nhận là bảo vật quốc gia.
- Chùa Nhật Tảo. Chùa Nhật Tảo có tên chữ Phúc Khánh tự. Chùa là cơ sở Phật giáo của làng Nhật Tảo, cần được phân biệt với đình Nhật Tảo dù hai di tích cùng thuộc một cộng đồng.
- Đình Liên Ngạc. Đình Liên Ngạc là ngôi đình của làng Liên Ngạc, nơi thờ Thành hoàng và duy trì các hoạt động tế lễ truyền thống. Di tích được ghi nhận riêng với đình Đông Ngạc và đình Nhật Tảo.
- Chùa Liên Ngạc. Chùa Liên Ngạc có tên chữ Hoa Diên tự. Chùa là một trong những cơ sở Phật giáo cổ của vùng ven sông Hồng, gắn với đời sống tinh thần của cư dân Liên Ngạc.
- Đình Giàn. Đình Giàn là đình của làng Giàn, tức Cáo Đỉnh xưa. Đình thờ Lý Phục Man, vị tướng được thần tích và truyền thuyết địa phương gắn với thời Lý Nam Đế.
- Chùa Giàn. Chùa Giàn có tên chữ Thiên Phúc tự, là ngôi chùa của làng Giàn. Chùa nằm gần đình nhưng là cơ sở thờ Phật độc lập, còn lưu giữ những dấu tích kiến trúc và đồ thờ truyền thống.
- Chùa Táo. Chùa Táo là ngôi chùa nằm trong khu vực thôn Nhang – Xuân Đỉnh xưa. Tư liệu giới thiệu công khai về lịch sử và tên chữ của chùa chưa nhiều, vì vậy cần khảo sát hồ sơ địa phương trước khi trình bày chi tiết.
- Đền Thanh Vân. Đền Thanh Vân nằm trên trục đường Xuân Đỉnh, là một cơ sở tín ngưỡng lâu đời của cư dân địa phương. Trong quá trình đô thị hóa, không gian quanh đền bị thu hẹp và bị che khuất bởi các công trình dân cư.
- Đình Xuân Tảo. Đình Xuân Tảo là ngôi đình của cộng đồng Xuân Tảo, thờ Thành hoàng và tổ chức những sinh hoạt tín ngưỡng của làng. Một số hồ sơ cũ từng ghi địa chỉ thuộc Xuân Đỉnh do được lập trước khi tách phường.
- Đền Sóc. Đền Sóc thờ Thánh Gióng theo truyền thuyết địa phương. Người dân tin rằng trên đường trở về núi Sóc sau khi đánh thắng giặc Ân, Thánh Gióng đã dừng chân tại khu vực này.
- Đình Hoàng. Đình Hoàng còn được gọi là đình Cổ Nhuế hoặc đình Chạ. Đình thờ Đông Chinh Vương theo thần tích địa phương và là một trung tâm sinh hoạt cộng đồng quan trọng của Cổ Nhuế xưa.
- Đình thôn Viên. Đình thôn Viên là nơi thờ Thành hoàng của cộng đồng thôn Viên. Đình thờ Đông Chinh Vương cùng các nhân vật được phối thờ theo thần tích địa phương.
- Đền Bà Chúa. Đền Bà Chúa thờ Công chúa Túc Trinh theo truyền thống của cư dân Cổ Nhuế. Đền còn được biết đến với tên chữ Tối Linh từ và cần được phân biệt với đền Bà Chúa Túc Trinh tại khu vực Yên Nội – Liên Mạc.
- Chùa Anh Linh. Chùa Anh Linh có tên chữ Anh Linh tự, là ngôi chùa cổ của thôn Viên. Chùa còn lưu giữ tượng Phật, bia, chuông và đồ thờ thuộc nhiều giai đoạn.
- Chùa Sùng Quang. Chùa Sùng Quang thường được người dân gọi là chùa Cả. Đây là ngôi chùa riêng, không đồng nhất với chùa Anh Linh dù cả hai cùng thuộc khu vực Cổ Nhuế 2.
- Đền Thái y Nguyễn Hữu Đạo. Đền thờ Thái y Nguyễn Hữu Đạo là nơi tưởng niệm một nhân vật có đóng góp trong lĩnh vực y học và đối với cộng đồng địa phương. Tên di tích trong danh mục xếp hạng được ghi là đền Thái y Nguyễn Hữu Đạo, vì vậy được đưa vào nhóm đền của bài viết.