Bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường là một dị bản hát văn lưu truyền trong cộng đồng thực hành tín ngưỡng Sơn Trang. Nội dung bài văn kể về một vị nữ thần được tôn xưng là Đệ Nhị Tổ Mường, gắn với danh hiệu Diệu Tín Thiền Sư, vùng núi rừng Hòa Bình, lưu vực sông Đà và nhiều địa danh thuộc không gian cư trú lâu đời của người Mường.
Không chỉ có chức năng thỉnh mời và ca ngợi một vị Chúa Bà, bài văn còn lưu giữ lớp ký ức về cảnh quan miền núi, dòng họ lang Mường, những quan niệm dân gian về thần núi, phép thiêng, việc bảo vệ bản mường và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Các chi tiết thần kỳ trong bản văn cần được hiểu là ngôn ngữ của truyền thuyết và tín ngưỡng, không phải dữ kiện lịch sử hay kết luận khoa học.
Hát văn, còn gọi là chầu văn, là hình thức kết hợp lời ca, âm nhạc và nghi lễ. Trong thực hành hầu đồng, cung văn sử dụng lời hát để ca ngợi công đức, miêu tả dung mạo, cảnh ngự và sự tích của từng vị thánh. Nghi lễ Chầu văn của người Việt được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012; còn Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016.
Toàn văn bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường
Dị bản dưới đây được giới thực hành giới thiệu là tư liệu lưu truyền từ Đền Bồng Lai và dùng để thỉnh Chúa Bà Đệ Nhị trong Tam vị Chúa Mường. Bản văn không ghi tên tác giả và được truyền chép qua nhiều nguồn, vì vậy giữa các bản có thể xuất hiện khác biệt về chữ, dấu câu, cách viết địa danh và một số từ cổ.

Phần lời dưới đây đã được chỉnh lại lỗi đánh máy, viết hoa tên riêng và trình bày thành từng khổ để thuận tiện khi đọc. Riêng những câu chưa đủ căn cứ để xác định nghĩa gốc được giữ gần với dị bản lưu truyền.
Ngôi Đệ Nhị quyền thay chủ trưởng,
Cai các mường non Thượng Sơn Trang.
Tập tu thông tỏ phép ngàn,
Chân Như chứng đắc, phong làm Thiền Sư.Hòa Bình cảnh địa dư tích cũ,
Chốn lâm sơn khí tụ xưa nay.
Lũng vân chất ngất non mây,
Mai Đà thăm thẳm cỏ cây ngút ngàn.Sông Đà rằng man man nước chảy,
Núi Đầu Rồng dãy dãy long châu.
Đông sơn hạc vũ oanh chầu,
Thiên thai tạo hóa cơ mầu đúc nên.Cảnh vật khoe một nền chung tú,
Người cổ Mường cư trú ngàn xưa.
Ngưỡng thiên kính địa mộ thừa,
Lập thờ Tứ Pháp cầu mưa thuận hòa.Cảm lòng nhân cũng là mến cảnh,
Đức Chúa Bà xin lệnh Cửu Cung.
Xuống trần luyện phép Sơn Trung,
An dân độ thế, trấn vùng Đà Giang.Thấy Quách tộc dòng lang tích phúc,
Mượn cửa làm cốt nhục hiện thân.
Năm Thân, tháng Mão, sơ tuần,
Mưa mành lất phất, hoa xuân hé cười.Bẩm thiên sinh dáng người nhi nữ,
Vẻ hùng hào quân tử hiên ngang.
Kim mao bạch diện rõ ràng,
Song thân thất sắc, hoang mang cõi lòng.Vội đem giấu vào trong thung thẳm,
Biết đâu trời đã sắp huyền duyên.
Hùm beo thành đấng mẫu hiền,
Sớm hôm dung dưỡng, bát niên trưởng thành.Từ ấy đã lừng danh sơn chủ,
Khiển các loài muông thú nghe theo.
Sớm hôm ngoạn suối chơi đèo,
Nắng lùa trong động, mưa treo vách ngoài.Đức Thánh Tổ thiền ngai bắt quyết,
Sai chim rừng, chú viết lá cây.
“Hà Thư” họa suốt đêm ngày,
Thả dòng nước ngược trôi đầy Đà Giang.Nguyện rằng ai là hàng cơ trí,
Giải chú này đích thị đồ nhi.
Nam thiên giới thọ bất kỳ,
Thầy mang pháp xuống tức thì truyền cho.Đức Chúa Bà căn do tiên cốt,
Vừa xuống dòng tay hốt được ngay.
Nhỡn quang tường tận chú này,
Thầy sai về núi, theo thầy nhập môn.Tam niên quán càn khôn tứ hải,
Phép tiên gia khiếp hãi sơn linh.
Cường tà, mãnh quỷ, hung tinh,
Nghe danh Tiên Chúa nép mình cho mau.Chú Mường khẩu làu làu vanh vách,
Phù Tam Thanh hách hách dương dương.
Pháp môn chài, ngải, nèm Mường,
Bùa mê, ếm lú, ai đương đại tài.Khi giáng đàn khất khai thần phiến,
Phép diệu huyền tài biến ghê thay.
Tiên tri xuất toán ai tày,
Mệnh phường bói chữa đêm ngày quản cai.Khẩu xuất thời không sai một chữ,
Lá cây rừng ướm thử thiêng thay.
Có phen gọi úm chớ chầy,
Sai di chớ nhác, lên ngay phụ đồng.Dân đâu biết một lòng chí kính,
Niệm danh Bà, nhĩ thính độ ngay.
Nhang hoa cung phụng đêm ngày,
Chúa Bà gia hộ mỗi ngày một hơn.Người bất kính sai nhờn chẳng kể,
Phạm uy Bà Chúa tể sơn thanh.
Lá cây năm ngọn năm cành,
Bắt hồn nhốt vía cho xanh mặt này.Ai sơ ý ra tay trạc quyết,
Trói ba ngày thời biết chạy đâu.
Tỉnh ra quỳ gối khấu đầu,
Xin Bà buông thứ cho mau mà về.Khắp mường động, sơn khê từ đấy,
Trẻ cùng già ai nấy cúc cung.
Tôn danh Mường Tổ Sơn Trung,
Đội ơn che chở khắp vùng Đà Giang.Nào Pà Cò, Ba Khan, Thượng Tiến,
Từ Pu Canh cho đến Pù Luông.
Thung Khe, Thung Nhuối, Ngổ Luông,
Bi, Vang, Thàng, Động, các mường vui thay.Chợt mới thấy cành cây làm võng,
Thoắt đã về trong động lánh mưa.
Phép tiên đã đắc thượng thừa,
Tiêu dao các xứ sớm trưa mặc lòng.Khi thích chí Thiên Long, Đá Bạc,
Động Tiên Phi lại thác Thăng Thiên.
Hoa Sơn, Pù Noọc, Hoa Tiên,
Thung Nai, hang Rết càng thêm thú mầu.Khi Mỏ Luông, Mai Châu, Bản Lác,
Khi qua về Cửu Thác dừng chân.
Đông Sơn là chốn hóa thần,
Mười hai tháng chín, năm Dần hồi tiên.Lại theo phép tông thiền nhập định,
Chốn cửu trùng tập tính công phu.
Quên ngày quên tháng luyện tu,
Chúa Bà chứng đắc Chân Như đạo mầu.Chúng mường thổ khẩn cầu tất ứng,
Lập linh từ cung phụng đèn hương.
Chú thiêng lưu lại xứ Mường,
Mật ngôn độn quyết bốn phương hãi hùng.Ai hữu sự cúc cung khẩn đảo,
Bà giáng đồng lai đáo trần gian.
Tiên tri, bóc bệnh, hộ đàn,
Khuông phù đồng tử bình an, vượng tài.Tục lưu truyền mười hai tháng chín,
Tiệc Chúa Mường Diệu Tín hách danh.
Nay con một dạ kính thành,
Sơn Trang dạo khúc cầm thanh rộn ràng.Xin Chúa Bà gia ban phúc lộc,
Độ muôn người bội gốc sai hoa.
Trong khi xênh phách cầm ca,
Sai ngôn thất ý, xin Bà khai ân.
Một số bản chép câu “Mượn cửa làm cốt nhục hiện thân” thành “Mượn cửu làm cốt nhục hiện thân”; “tháng Mão” thành “tháng Máo”; tên “Quách” cũng từng bị viết sai do quá trình đánh máy. Việc hiệu đính chỉ nhằm giúp câu văn dễ hiểu hơn, không có nghĩa đây là phiên bản duy nhất hoặc bản cổ nguyên gốc.
Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường là ai?
Theo chính nội dung bản văn, Chúa Bà Đệ Nhị là một vị nữ thần cai quản các mường vùng núi, được tôn xưng là Mường Tổ Sơn Trung và Diệu Tín Thiền Sư. Không gian hoạt động của Bà tập trung quanh Hòa Bình, sông Đà, Mai Châu và những vùng rừng núi gắn với đời sống của các cộng đồng Mường.
Tên gọi của vị Chúa Bà có thể được tách thành các lớp nghĩa:
- Đệ Nhị chỉ thứ bậc thứ hai trong một nhóm ba vị.
- Sơn Trang gợi không gian rừng núi, hang động, khe suối và các bản mường.
- Tổ Mường là danh xưng tôn kính trong một số cộng đồng thực hành, thể hiện quan niệm Bà là vị bảo trợ hoặc bậc tổ của người dân trong vùng.
- Diệu Tín Thiền Sư là danh hiệu xuất hiện ở phần cuối bản văn, gắn với mô-típ tu luyện, nhập định và chứng đắc.
Tuy nhiên, “Tổ Mường” không nên được hiểu là danh hiệu thống nhất của toàn bộ người Mường ở mọi địa phương. Văn hóa Mường có phạm vi rộng, gồm nhiều vùng cư trú và nhiều truyền thống thờ phụng khác nhau. Bản văn phản ánh trước hết một dòng lưu truyền cụ thể trong đời sống tín ngưỡng Sơn Trang, chứ không đại diện cho toàn bộ tín ngưỡng của một dân tộc.
Trong các tư liệu thực hành đương đại, cách sắp xếp Tam vị Chúa Mường, Tam tòa Sơn Trang và những hóa thân của Mẫu Thượng Ngàn không hoàn toàn đồng nhất. Có nguồn gọi Đệ Nhị Sơn Trang là Diệu Tín Thiền Sư hoặc La Bình Công chúa; nguồn khác lại phân biệt Tam vị Chúa Mường với hệ thống Tam tòa Sơn Trang. Sự khác nhau ấy cho thấy điện thần dân gian được hình thành qua truyền khẩu, giao lưu vùng miền và quá trình phối thờ tại từng đền, phủ, điện.
Vì chưa có đủ tư liệu lịch sử độc lập xác nhận tên thật, niên đại và cuộc đời của nhân vật trong bản văn, các chi tiết về giáng sinh, học đạo, hóa thần và hiển linh nên được giới thiệu là thần tích hoặc truyền thuyết tín ngưỡng, không trình bày như tiểu sử của một nhân vật lịch sử đã được chứng minh.
Không gian núi rừng Hòa Bình trong bản văn
Một trong những điểm nổi bật nhất của bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường là mật độ địa danh dày đặc. Ngay từ những khổ đầu, tác phẩm đã mở ra cảnh núi rừng:
Hòa Bình cảnh địa dư tích cũ,
Chốn lâm sơn khí tụ xưa nay.
Sau đó là một chuỗi tên gọi: Mai Đà, sông Đà, núi Đầu Rồng, Đông Sơn, Pà Cò, Ba Khan, Thượng Tiến, Pù Luông, Thung Khe, Ngổ Luông, Thung Nai, Mỏ Luông, Mai Châu, Bản Lác và nhiều hang động, thác nước khác.
Sông Đà là trục kết nối của không gian thiêng
Sông Đà xuất hiện nhiều lần trong bản văn. Dòng sông không chỉ là một yếu tố địa lý mà còn giữ vai trò kết nối núi rừng, bản mường và hành trình của vị Chúa Bà. Trong tưởng tượng dân gian, sông vừa là ranh giới, vừa là con đường giao thông, nguồn sinh kế và không gian thử thách.
Chi tiết chiếc lá có chữ được thả theo dòng nước để tìm người đủ trí tuệ tiếp nhận phép truyền cũng đặt sông Đà vào vai trò trung gian giữa người thầy và người học trò. Dòng nước vì thế mang ý nghĩa của duyên gặp gỡ và sự truyền trao tri thức thiêng.
Núi, động và thác là nơi ngự trị
Núi Đầu Rồng, động Tiên Phi, thác Thăng Thiên, hang Rết và những địa danh có yếu tố “thung”, “pù”, “mỏ” tạo nên một bản đồ núi rừng rộng lớn. Bà không được miêu tả là chỉ ngự cố định tại một nơi mà có thể đi khắp các mường, khi ở trong động, khi trên đèo, khi bên thác, khi qua làng bản.
Cách miêu tả ấy phù hợp với hình tượng thần núi trong tín ngưỡng dân gian. Quyền năng của vị thần thường được biểu hiện bằng khả năng hiện diện trên một vùng rộng, bảo vệ nhiều cộng đồng có chung môi trường sống và mối liên hệ văn hóa.
Địa danh vừa có thực vừa mang tính ký ức
Nhiều tên trong bản văn có thể nhận ra trên bản đồ hiện nay, nhưng cũng có tên được ghi theo cách gọi cũ, tiếng địa phương hoặc trí nhớ của người truyền văn. Địa giới hành chính đã nhiều lần thay đổi, trong khi tên bản, tên núi, tên hang và tên mường có thể tồn tại lâu hơn các đơn vị quản lý nhà nước.
Do đó, không nên dùng riêng bản văn để xác định địa chỉ hành chính hoặc khẳng định một địa điểm là nơi thờ chính của Chúa Bà. Muốn giới thiệu một ngôi đền cụ thể, cần kiểm tra tên chính thức, địa chỉ hiện hành, đơn vị quản lý, hồ sơ di tích và truyền thống thờ phụng tại chỗ.
Câu chuyện giáng sinh trong dòng họ Quách
Bản văn kể rằng Chúa Bà xin lệnh Cửu Cung xuống trần, lựa chọn một gia đình thuộc họ Quách, dòng lang có phúc để hiện thân:
Thấy Quách tộc dòng lang tích phúc,
Mượn cửa làm cốt nhục hiện thân.
Trong xã hội Mường truyền thống, “lang” là một từ gắn với tầng lớp đứng đầu hoặc dòng họ có vai trò quản lý một vùng mường. Việc nhân vật thần linh giáng sinh vào “dòng lang” vừa khẳng định địa vị cao quý, vừa tạo mối liên hệ giữa quyền lực thiêng và trật tự cộng đồng.
Tuy vậy, bản văn không cung cấp đầy đủ tên cha mẹ, quê quán cụ thể hoặc niên đại theo lịch sử. Cách nói “năm Thân, tháng Mão, sơ tuần” cũng chưa đủ để xác định một ngày sinh theo niên đại dương lịch. Đây là cách kể mang tính ước lệ, giúp câu chuyện có màu sắc cổ xưa và linh thiêng.
Hình hài khác lạ và phản ứng của gia đình
Nhân vật được miêu tả là một bé gái nhưng có vẻ “hùng hào quân tử”, với dung mạo khác thường khiến song thân hoảng sợ. Sau đó, đứa trẻ bị đưa vào nơi rừng sâu.
Mô-típ một nhân vật khác thường bị gia đình hoặc cộng đồng từ bỏ xuất hiện trong nhiều truyền thuyết. Sự khác lạ ban đầu trở thành dấu hiệu cho thấy nhân vật không thuộc hoàn toàn về thế giới thông thường. Khi lớn lên và bộc lộ tài năng, người từng bị xa lánh lại được cộng đồng nhìn nhận là bậc phi thường.
Được hùm beo nuôi dưỡng
Chi tiết hùm beo trở thành “đấng mẫu hiền”, nuôi Chúa Bà trong tám năm, là một hình ảnh giàu tính biểu tượng. Thú dữ không làm hại mà trở thành lực lượng bảo vệ đứa trẻ, cho thấy sự hòa hợp giữa nhân vật với thế giới sơn lâm.
Trong ngôn ngữ truyền thuyết, người được thú rừng nuôi thường được xem là có căn nguyên đặc biệt, hiểu tiếng muông thú hoặc có quyền cai quản tự nhiên. Bản văn tiếp tục phát triển ý nghĩa ấy qua câu:
Từ ấy đã lừng danh sơn chủ,
Khiển các loài muông thú nghe theo.
Cần hiểu đây là mô-típ thần thoại, không phải ghi chép về một sự kiện có thể kiểm chứng. Giá trị của hình ảnh nằm ở quan niệm rằng vị thần bảo trợ núi rừng phải có mối quan hệ hài hòa với cây cỏ và muông thú.
Hành trình học đạo của Diệu Tín Thiền Sư
Sau giai đoạn lớn lên giữa núi rừng, Chúa Bà gặp một vị Thánh Tổ. Người thầy viết chú lên lá cây rồi thả theo dòng nước, nguyện rằng người nào có đủ trí tuệ đọc hiểu sẽ trở thành học trò.
Chúa Bà bắt được chiếc lá, hiểu được nội dung và được nhận làm môn đệ. Sau ba năm, Bà thông đạt những tri thức mà bản văn gọi là phép tiên gia, chú Mường, phù Tam Thanh và các pháp môn của miền núi.
Mô-típ người thầy thử học trò
Chiếc lá trôi theo dòng sông là một hình thức thử thách. Người thầy không trực tiếp tuyển chọn mà để cơ duyên quyết định. Chỉ người vừa có duyên gặp chiếc lá, vừa đủ khả năng đọc hiểu mới được truyền dạy.
Câu chuyện này đề cao hai phẩm chất: căn duyên và trí tuệ. Nhân vật không đạt địa vị chỉ vì có nguồn gốc khác thường mà còn phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện và nhập môn.
Sự giao thoa giữa nhiều lớp tín ngưỡng
Trong bản văn xuất hiện đồng thời những từ thuộc nhiều hệ thống biểu tượng:
- “Cửu Cung”, “Tam Thanh”, “phù”, “chú” gợi ảnh hưởng của Đạo giáo và pháp thuật dân gian.
- “Thiền Sư”, “Chân Như”, “nhập định” là những thuật ngữ có nguồn gốc Phật giáo.
- “Chú Mường”, “nèm Mường”, cây rừng và địa danh bản mường thể hiện lớp tín ngưỡng địa phương.
- Hình tượng Chúa Bà cai quản Sơn Trang lại gần với điện thần thờ Mẫu và nữ thần núi rừng.
Sự kết hợp ấy không nên được hiểu như một hệ thống giáo lý thống nhất. Văn hóa tín ngưỡng dân gian thường tiếp nhận và tái diễn giải nhiều biểu tượng khác nhau để tạo thành câu chuyện phù hợp với nhu cầu của cộng đồng.
Chính UNESCO cũng nhận định thực hành thờ Mẫu Tam phủ của người Việt có sự kết hợp của các chiều kích tín ngưỡng, âm nhạc, múa, trang phục và những yếu tố tôn giáo khác nhau.
Hình tượng vị Chúa bảo trợ bản mường
Sau khi học đạo, Chúa Bà được kể là có khả năng cai quản sơn linh, trấn áp các lực lượng nguy hiểm và bảo vệ dân chúng. Những câu văn nói về “an dân độ thế”, “che chở khắp vùng Đà Giang” thể hiện rõ vai trò bảo trợ cộng đồng.
Trong xã hội miền núi trước đây, cuộc sống của con người phụ thuộc lớn vào thời tiết, nguồn nước, rừng, thú dữ và điều kiện giao thông hiểm trở. Hình tượng một nữ thần có thể bảo vệ người đi rừng, trông coi bản mường và chế ngự những điều bất an đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng.
Quyền năng vừa che chở vừa răn đe
Bản văn không chỉ kể việc ban ơn mà còn miêu tả sự trừng phạt dành cho người “bất kính”. Những hình ảnh như bắt hồn, nhốt vía, trói giữ mang sắc thái mạnh và có thể khiến người đọc ngày nay cảm thấy đáng sợ.
Đây là cách thể hiện quen thuộc trong nhiều thần tích dân gian. Vị thần bảo vệ trật tự thường có hai phương diện: nhân từ với người thành kính, nghiêm khắc với người xúc phạm điều thiêng hoặc phá vỡ quy ước cộng đồng. Quyền uy ấy giúp củng cố những chuẩn mực mà người xưa muốn gìn giữ.
Tuy nhiên, không nên dùng các câu chuyện trừng phạt để đe dọa người khác, quy kết mọi tai họa là do thần linh hoặc tạo tâm lý phải bỏ nhiều tiền sắm lễ. Giá trị văn hóa của tín ngưỡng nằm ở lòng tôn kính, ý thức giữ gìn truyền thống và cách sống có trách nhiệm, không nằm ở nỗi sợ hãi.
“Bói chữa” trong bối cảnh tín ngưỡng
Bản văn có các câu nói về tiên tri, bói chữa và bóc bệnh. Đây là dấu vết của một môi trường văn hóa trong đó thầy cúng, người làm lễ hoặc người có uy tín tín ngưỡng từng tham gia giải thích những bất an của cộng đồng.
Ngày nay, những câu chữ ấy chỉ nên được tìm hiểu như tư liệu về quan niệm dân gian. Hát văn, xin quẻ hoặc thực hành nghi lễ không thể thay thế việc khám bệnh, chẩn đoán và điều trị tại cơ sở y tế. Việc tuyên bố có khả năng chữa khỏi bệnh bằng phép thiêng có thể gây nguy hiểm và làm sai lệch ý nghĩa văn hóa của di sản.
Ý nghĩa của danh hiệu “Diệu Tín Thiền Sư”
Danh hiệu Diệu Tín Thiền Sư xuất hiện rõ ở đoạn cuối:
Tục lưu truyền mười hai tháng chín,
Tiệc Chúa Mường Diệu Tín hách danh.
“Diệu Tín” có thể được hiểu theo nghĩa văn chương là niềm tin sâu sắc, tốt đẹp hoặc nhiệm mầu. “Thiền Sư” vốn là danh xưng liên quan đến người tu thiền, nhưng trong bối cảnh bản văn, danh hiệu này đã được dân gian hóa và đặt bên cạnh các yếu tố Sơn Trang, chú Mường, Cửu Cung và Tam Thanh.
Không có đủ căn cứ để khẳng định Chúa Bà từng là một tu sĩ Phật giáo theo nghĩa lịch sử. Danh hiệu Thiền Sư ở đây nên được đọc như bộ phận của thần tích, thể hiện quá trình tu luyện, nhập định và đạt đến trạng thái linh thiêng trong tưởng tượng cộng đồng.
“Chân Như” cũng là thuật ngữ Phật giáo, thường chỉ thực tại chân thật, vượt khỏi những phân biệt và vọng tưởng. Khi được đưa vào hát văn, khái niệm này không còn được trình bày thành một học thuyết triết học mà trở thành lời ca ngợi sự chứng đắc của vị Chúa Bà.
Sự vay mượn thuật ngữ không đồng nghĩa bản văn là kinh Phật hoặc Chúa Bà là một nhân vật thuộc hệ thống giáo lý chính thức của Phật giáo. Việc phân biệt này giúp tôn trọng cả tín ngưỡng dân gian và truyền thống tôn giáo.
Ngày tiệc Chúa Bà Đệ Nhị Tổ Mường
Bản văn hai lần nhắc đến ngày 12 tháng Chín:
Đông Sơn là chốn hóa thần,
Mười hai tháng chín, năm Dần hồi tiên.
Và:
Tục lưu truyền mười hai tháng chín,
Tiệc Chúa Mường Diệu Tín hách danh.
Theo cách diễn đạt trong văn chầu, đây được xem là ngày hóa hoặc ngày tiệc truyền thống của Chúa Bà. Thông thường, ngày tiệc trong tín ngưỡng dân gian được tính theo âm lịch, nhưng bản văn không tự giải thích rõ lịch pháp.
Vì vậy, khi giới thiệu ngày 12 tháng Chín cần ghi là ngày truyền thống theo dị bản bản văn, không nên khẳng định đây là lịch lễ hội thống nhất tại mọi nơi thờ Chúa Bà. Lịch tổ chức thực tế ở từng đền có thể thay đổi theo phong tục địa phương, điều kiện quản lý và thông báo của ban tổ chức trong từng năm.
Chi tiết “năm Dần hồi tiên” cũng không đủ để quy đổi thành một năm dương lịch cụ thể. Không nên tự lựa chọn một năm Dần trong lịch sử rồi coi đó là niên đại hóa của nhân vật.
Đặc điểm nghệ thuật của bản văn
Sử dụng thể thơ lục bát và biến thể
Phần lớn bài văn được viết theo thể lục bát, nhưng số tiếng ở một số câu có thể co giãn. Đây là điều thường gặp trong hát văn bởi lời thơ còn phải phù hợp với làn điệu, nhịp phách và cách xử lý của cung văn.
Khi được hát, những tiếng đệm, tiếng ngân, câu nhắc hoặc đoạn chuyển điệu có thể được thêm vào. Vì thế, văn bản để đọc và lời trình diễn thực tế không nhất thiết giống nhau hoàn toàn.
Lời văn giàu từ Hán Việt
Các từ như chủ trưởng, địa dư, chung tú, Cửu Cung, càn khôn, tứ hải, tiên cốt, nhỡn quang, Tam Thanh, cúc cung, khẩn đảo, lai đáo và khuông phù tạo nên giọng trang trọng, cổ kính.
Bên cạnh đó là từ ngữ mang màu sắc địa phương như mường, dòng lang, chú Mường, nèm Mường, pù, thung và tên các bản vùng cao. Hai lớp từ vựng đặt cạnh nhau làm nên diện mạo riêng của bài văn: vừa trang nghiêm theo phong cách chầu văn, vừa gắn chặt với không gian miền núi.
Liệt kê địa danh tạo cảm giác hành trình
Đoạn liệt kê Pà Cò, Ba Khan, Pù Luông, Thung Khe, Thung Nai, Mỏ Luông, Mai Châu và Bản Lác khiến lời văn giống một cuộc tuần du của Chúa Bà.
Kỹ thuật này có nhiều tác dụng. Nó mở rộng phạm vi quyền uy của nhân vật, khơi gợi sự gần gũi với người nghe ở từng địa phương và biến cảnh quan quen thuộc thành không gian thiêng. Khi một tên núi, tên mường được xướng lên trong tiếng đàn, trống và phách, người dự lễ có thể cảm nhận địa phương của mình đã trở thành một phần của câu chuyện.
Hình ảnh thiên nhiên sinh động
Mưa xuân, non mây, sông nước, cỏ cây, hùm beo, chim rừng, hang động và thác nước xuất hiện xuyên suốt bài văn. Thiên nhiên không phải phông nền im lặng mà trực tiếp tham gia câu chuyện: thú rừng nuôi nhân vật, chim mang chữ, nước đưa lá đến người có duyên, núi động trở thành nơi tu luyện.
Nhìn từ góc độ văn hóa, đây là dấu hiệu của lối sống gắn bó chặt chẽ với hệ sinh thái miền núi. Con người vừa nương nhờ tự nhiên, vừa kính sợ sức mạnh của tự nhiên và gửi gắm mong ước bình an vào hình tượng thần linh.
Một số từ cổ và câu khó hiểu trong bản văn
Do được truyền chép qua nhiều người, bản văn có những từ khó xác định. Không nên tùy tiện sửa toàn bộ theo ngôn ngữ hiện đại, bởi một chữ tưởng là sai có thể là âm địa phương hoặc dấu vết của dị bản cũ.
“Chủ trưởng”
Trong câu “Ngôi Đệ Nhị quyền thay chủ trưởng”, từ này có thể chỉ người giữ quyền đứng đầu hoặc thay mặt bậc chủ quản. Câu thơ nhằm khẳng định địa vị cao của Chúa Đệ Nhị trong hàng Sơn Trang.
“Chung tú”
“Chung tú” thường được hiểu là nơi hội tụ vẻ đẹp, khí thiêng hoặc những gì tinh túy. “Cảnh vật khoe một nền chung tú” ca ngợi vùng đất có núi sông đẹp đẽ và linh khí hội tụ.
“Dòng lang”
“Lang” gắn với tầng lớp đứng đầu mường trong cơ cấu xã hội cổ truyền. “Dòng lang tích phúc” có thể hiểu là dòng họ có địa vị và đã tích nhiều phúc đức.
“Kim mao bạch diện”
Nếu hiểu theo nghĩa chữ, cụm từ chỉ tóc hoặc lông màu vàng và khuôn mặt trắng. Trong văn chương tín ngưỡng, đây có thể là cách tả dung mạo khác thường, không nhất thiết phản ánh đặc điểm nhân chủng hay ngoại hình có thật.
“Hà Thư”
Bản văn đặt từ này trong dấu nhấn như tên một bài chú, văn tự hoặc phép truyền. Chưa đủ căn cứ để đồng nhất “Hà Thư” với một văn bản Đạo giáo cụ thể hay với khái niệm Hà Đồ, Lạc Thư.
“Nèm Mường”
“Nèm” thường được nhắc trong một số truyền thống nghi lễ miền núi, liên quan đến lời niệm, phép làm hoặc tri thức của thầy cúng. Nghĩa cụ thể có thể khác nhau giữa các địa phương và cộng đồng.
“Khất khai thần phiến”
Đây là một trong những cụm từ khó xác định. “Thần phiến” có thể liên quan đến chiếc quạt thiêng hoặc động tác khai quang bằng quạt trong nghi lễ, nhưng cần thêm tư liệu từ người trực tiếp lưu giữ bản văn mới có thể giải nghĩa chắc chắn.
“Khuông phù”
“Khuông phù” mang nghĩa nâng đỡ, phù trợ hoặc giữ cho ngay chính. Câu “Khuông phù đồng tử bình an, vượng tài” là lời cầu mong sự che chở đối với người thực hành và cộng đồng dự lễ.
“Bội gốc sai hoa”
Câu “Độ muôn người bội gốc sai hoa” có thể gợi hình ảnh cây cối nhiều gốc, nhiều cành, sai hoa trái, dùng để tượng trưng cho sự sinh sôi và thịnh đạt. Tuy nhiên, đây cũng có thể là một câu đã bị biến âm trong quá trình truyền chép.
Không nên nhầm Chúa Đệ Nhị Tổ Mường với các vị Đệ Nhị khác
Điện thần dân gian có nhiều vị mang thứ bậc “Đệ Nhị”. Nếu chỉ nhìn hai chữ này, người đọc rất dễ đồng nhất các nhân vật vốn thuộc những hàng hoặc dòng truyền thờ khác nhau.
Chúa Đệ Nhị Tổ Mường
Đây là vị được nói đến trong bài viết, mang danh hiệu Diệu Tín Thiền Sư, gắn với Sơn Trang, Hòa Bình và vùng sông Đà theo dị bản bản văn.
Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn
Chầu Đệ Nhị thường được xếp trong hàng Tứ phủ Chầu Bà. Danh xưng “Chầu” thể hiện một vị trí khác với hàng “Chúa”. Bản văn, sự tích và nghi thức thỉnh Chầu Đệ Nhị không nên tự động ghép với bản văn Chúa Đệ Nhị Tổ Mường.
Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ
Chúa Nguyệt Hồ được thờ trong một dòng tín ngưỡng khác và thường được dân gian nhắc đến với khả năng xem bói. Dù đôi khi được gọi là Chúa Đệ Nhị trong Tam vị Chúa Mường của một số bản hội, Bà không mặc nhiên là cùng một nhân vật với Diệu Tín Thiền Sư trong bản văn này.
Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn
Trong Tam tòa Thánh Mẫu, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn là vị Thánh Mẫu đại diện cho miền rừng núi. Một số truyền thống coi các Chúa Sơn Trang là hóa thân, đại diện hoặc vị phụng sự của Mẫu; nơi khác lại có cách giải thích riêng.
Do điện thần dân gian không có một giáo hội trung ương quy định thống nhất mọi danh hiệu, khi viết bài cần ghi rõ đang theo dị bản, đền thờ hoặc cộng đồng nào. Không nên gom tất cả các vị có màu áo xanh hoặc cùng gắn với núi rừng thành một nhân vật duy nhất.
Bản văn được sử dụng như thế nào?
Trong một vấn hầu hoặc đàn lễ có thỉnh Chúa Đệ Nhị, cung văn có thể lựa chọn một phần hoặc toàn bộ bài văn tùy hoàn cảnh. Không phải lần trình diễn nào cũng hát nguyên văn từ đầu đến cuối.
Theo mô tả của Cục Di sản văn hóa, một giá hầu thường có các giai đoạn thỉnh mời, ca ngợi công đức, thực hiện nghi thức, ban lộc và tiễn thánh. Cung văn phải điều chỉnh lời hát, tiết tấu và làn điệu theo diễn biến của giá hầu. Các làn điệu có thể gồm vỉa, bỉ, phú, dọc, cờn, xá, lưu thủy và nhiều cách chuyển nhịp khác.
Bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Tổ Mường có thể được triển khai theo nhiều sắc thái:
- Đoạn mở đầu mang tính thỉnh mời, giới thiệu ngôi vị.
- Đoạn tả Hòa Bình, sông Đà và núi Đầu Rồng có thể hát chậm để mở cảnh.
- Phần giáng sinh và được hùm beo nuôi dưỡng thiên về kể tích.
- Phần học đạo, trấn sơn linh làm nổi bật uy quyền của Chúa.
- Đoạn liệt kê địa danh có thể chuyển nhịp linh hoạt, tạo cảm giác Chúa tuần du.
- Đoạn cuối trở về lời cầu thỉnh, chúc tụng và xin khai ân.
Cách chọn điệu và xử lý lời thuộc tri thức nghề nghiệp của cung văn. Người chưa được học không nên coi văn bản trên mạng là bản ký âm hoàn chỉnh rồi tự suy đoán toàn bộ nghi thức.
Giá trị văn hóa của bản văn Chúa Đệ Nhị Tổ Mường
Lưu giữ ký ức địa phương
Bản văn ghi lại một mạng lưới địa danh rộng lớn. Ngay cả khi một số tên gọi chưa thể xác định chính xác, chúng vẫn phản ánh cách cộng đồng hình dung về vùng đất của mình.
Đó không phải một bản đồ hành chính mà là bản đồ ký ức: nơi có sông lớn, núi thiêng, hang động, bản cổ, dòng lang và những tuyến đường qua rừng. Thần tích giúp liên kết các địa điểm rời rạc thành một không gian văn hóa chung.
Tôn vinh hình tượng nữ thần miền núi
Chúa Bà vừa có nét dịu dàng của người nữ, vừa mang vẻ mạnh mẽ của người đứng đầu. Bà sinh ra trong hình hài nữ nhi nhưng được miêu tả “hùng hào quân tử”, có khả năng học đạo, cai quản muông thú và che chở nhiều mường.
Hình tượng ấy thể hiện sự tôn trọng đối với vai trò của người phụ nữ trong đời sống tinh thần. UNESCO cũng nhấn mạnh rằng tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần đề cao lòng từ bi của các Thánh Mẫu và tạo nên những mối liên kết xã hội trong cộng đồng thực hành.
Cho thấy sự giao lưu Kinh – Mường và các vùng miền
Bản văn được viết chủ yếu bằng tiếng Việt, theo thể lục bát và ngôn ngữ chầu văn, nhưng chứa nhiều địa danh, từ ngữ và hình tượng của không gian Mường. Đây là dấu hiệu của quá trình giao lưu lâu dài giữa các cộng đồng miền núi và đồng bằng.
Không nên đơn giản hóa sự giao lưu ấy thành việc một cộng đồng hoàn toàn vay mượn của cộng đồng khác. Tín ngưỡng dân gian thường được tạo nên bằng quá trình gặp gỡ, chọn lọc và tái diễn giải qua nhiều thế hệ.
Bảo tồn nghệ thuật chầu văn
Giá trị của bản văn không chỉ nằm ở câu chữ. Khi được trình diễn, nó kết hợp giọng hát, đàn nguyệt, trống, phách, cảnh, thanh la và nghệ thuật ứng tác của cung văn.
Một bản chép chỉ lưu được phần lời, chưa thể thay thế toàn bộ di sản trình diễn. Vì vậy, bảo tồn chầu văn cần quan tâm đồng thời đến nghệ nhân, làn điệu, kỹ thuật đàn hát, không gian nghi lễ và cách truyền dạy trực tiếp.
Cục Di sản văn hóa cho biết những người nắm giữ lời văn và kỹ năng hát đàn truyền thống thường truyền dạy tại chỗ từ đời này sang đời khác. Quá trình truyền khẩu giúp di sản sống động nhưng cũng làm xuất hiện nhiều dị bản.
Những lưu ý khi đọc và sử dụng bản văn
Bản văn là tư liệu tín ngưỡng, không phải văn khấn dùng chung cho mọi gia đình. Việc hát trong nghi lễ cần phù hợp với truyền thống của nơi thờ tự và sự hướng dẫn của người có hiểu biết.
Không nên dựa vào bài văn để khẳng định rằng mọi địa danh được nhắc đến đều có đền thờ Chúa Bà. Việc một tên núi hoặc bản xuất hiện trong lời hát có thể mang ý nghĩa văn chương, ký ức hành hương hoặc phạm vi quyền uy tượng trưng.
Không nên biến những đoạn nói về bói chữa, bùa chú và trừng phạt thành lời quảng cáo dịch vụ tâm linh. Những chi tiết ấy thuộc thế giới biểu tượng của thần tích. Chúng không chứng minh khả năng chữa bệnh, dự đoán chính xác tương lai hay tác động siêu nhiên lên người khác.
Khi đăng lại bản văn, nên ghi rõ đây là dị bản lưu truyền, không xác định tác giả và có thể khác với bản do cung văn hoặc đền thờ khác đang sử dụng. Việc tự ý khẳng định một bản là “chuẩn duy nhất”, “cổ nhất” hoặc “linh nghiệm nhất” khi không có tư liệu kiểm chứng dễ gây hiểu sai.
Cũng không cần sắm lễ lớn hoặc đốt nhiều vàng mã để thể hiện lòng thành. Công tác bảo vệ di sản hiện nay nhấn mạnh việc ngăn ngừa thương mại hóa, trục lợi và những hành vi làm biến dạng ý nghĩa của tín ngưỡng.
Kết luận
Bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường là một tác phẩm chầu văn giàu màu sắc địa phương. Qua lời thơ lục bát, hình tượng Diệu Tín Thiền Sư hiện lên giữa núi rừng Hòa Bình, sông Đà và những bản mường cổ, mang vai trò của một vị nữ thần bảo trợ cộng đồng.
Những câu chuyện về giáng sinh khác thường, được hùm beo nuôi dưỡng, học đạo qua chiếc lá trôi sông, cai quản muông thú và hiển linh giúp bản văn có sức hấp dẫn, nhưng cần được nhận diện đúng là thần tích và quan niệm tín ngưỡng. Chúng không phải bằng chứng lịch sử hay cơ sở cho những lời hứa chữa bệnh, bói toán hoặc thay đổi vận mệnh.
Giá trị bền vững của bài văn nằm ở khả năng lưu giữ địa danh, ký ức bản mường, nghệ thuật ngôn từ và mối quan hệ giữa con người với núi rừng. Việc bảo tồn bản văn vì thế cần đi cùng sự tôn trọng dị bản, tri thức của nghệ nhân, tinh thần hòa hợp cộng đồng và thái độ tỉnh táo trước những biểu hiện thương mại hóa tín ngưỡng.