Bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường cùng phần giải nghĩa về Diệu Tín Thiền Sư, địa danh, hình tượng và giá trị văn hóa.
Bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường là một dị bản hát văn lưu truyền trong cộng đồng thực hành tín ngưỡng Sơn Trang. Nội dung bài văn kể về một vị nữ thần được tôn xưng là Đệ Nhị Tổ Mường, gắn với danh hiệu Diệu Tín Thiền Sư, vùng núi rừng Hòa Bình, lưu vực sông Đà và nhiều địa danh thuộc không gian cư trú lâu đời của người Mường.
Không chỉ có chức năng thỉnh mời và ca ngợi một vị Chúa Bà, bài văn còn lưu giữ lớp ký ức về cảnh quan miền núi, dòng họ lang Mường, những quan niệm dân gian về thần núi, phép thiêng, việc bảo vệ bản mường và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Các chi tiết thần kỳ trong bản văn cần được hiểu là ngôn ngữ của truyền thuyết và tín ngưỡng, không phải dữ kiện lịch sử hay kết luận khoa học.
Toàn văn bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường
Dị bản dưới đây được giới thực hành giới thiệu là tư liệu lưu truyền từ Đền Bồng Lai và dùng để thỉnh Chúa Bà Đệ Nhị trong Tam vị Chúa Mường. Bản văn không ghi tên tác giả và được truyền chép qua nhiều nguồn, vì vậy giữa các bản có thể xuất hiện khác biệt về chữ, dấu câu, cách viết địa danh và một số từ cổ.

Phần lời dưới đây đã được chỉnh lại lỗi đánh máy, viết hoa tên riêng và trình bày thành từng khổ để thuận tiện khi đọc. Riêng những câu chưa đủ căn cứ để xác định nghĩa gốc được giữ gần với dị bản lưu truyền.
Ngôi Đệ Nhị quyền thay chủ trưởng,
Cai các mường non Thượng Sơn Trang.
Tập tu thông tỏ phép ngàn,
Chân Như chứng đắc, phong làm Thiền Sư.Hòa Bình cảnh địa dư tích cũ,
Chốn lâm sơn khí tụ xưa nay.
Lũng vân chất ngất non mây,
Mai Đà thăm thẳm cỏ cây ngút ngàn.Sông Đà rằng man man nước chảy,
Núi Đầu Rồng dãy dãy long châu.
Đông sơn hạc vũ oanh chầu,
Thiên thai tạo hóa cơ mầu đúc nên.Cảnh vật khoe một nền chung tú,
Người cổ Mường cư trú ngàn xưa.
Ngưỡng thiên kính địa mộ thừa,
Lập thờ Tứ Pháp cầu mưa thuận hòa.Cảm lòng nhân cũng là mến cảnh,
Đức Chúa Bà xin lệnh Cửu Cung.
Xuống trần luyện phép Sơn Trung,
An dân độ thế, trấn vùng Đà Giang.Thấy Quách tộc dòng lang tích phúc,
Mượn cửa làm cốt nhục hiện thân.
Năm Thân, tháng Mão, sơ tuần,
Mưa mành lất phất, hoa xuân hé cười.Bẩm thiên sinh dáng người nhi nữ,
Vẻ hùng hào quân tử hiên ngang.
Kim mao bạch diện rõ ràng,
Song thân thất sắc, hoang mang cõi lòng.Vội đem giấu vào trong thung thẳm,
Biết đâu trời đã sắp huyền duyên.
Hùm beo thành đấng mẫu hiền,
Sớm hôm dung dưỡng, bát niên trưởng thành.Từ ấy đã lừng danh sơn chủ,
Khiển các loài muông thú nghe theo.
Sớm hôm ngoạn suối chơi đèo,
Nắng lùa trong động, mưa treo vách ngoài.Đức Thánh Tổ thiền ngai bắt quyết,
Sai chim rừng, chú viết lá cây.
“Hà Thư” họa suốt đêm ngày,
Thả dòng nước ngược trôi đầy Đà Giang.Nguyện rằng ai là hàng cơ trí,
Giải chú này đích thị đồ nhi.
Nam thiên giới thọ bất kỳ,
Thầy mang pháp xuống tức thì truyền cho.Đức Chúa Bà căn do tiên cốt,
Vừa xuống dòng tay hốt được ngay.
Nhỡn quang tường tận chú này,
Thầy sai về núi, theo thầy nhập môn.Tam niên quán càn khôn tứ hải,
Phép tiên gia khiếp hãi sơn linh.
Cường tà, mãnh quỷ, hung tinh,
Nghe danh Tiên Chúa nép mình cho mau.Chú Mường khẩu làu làu vanh vách,
Phù Tam Thanh hách hách dương dương.
Pháp môn chài, ngải, nèm Mường,
Bùa mê, ếm lú, ai đương đại tài.Khi giáng đàn khất khai thần phiến,
Phép diệu huyền tài biến ghê thay.
Tiên tri xuất toán ai tày,
Mệnh phường bói chữa đêm ngày quản cai.Khẩu xuất thời không sai một chữ,
Lá cây rừng ướm thử thiêng thay.
Có phen gọi úm chớ chầy,
Sai di chớ nhác, lên ngay phụ đồng.Dân đâu biết một lòng chí kính,
Niệm danh Bà, nhĩ thính độ ngay.
Nhang hoa cung phụng đêm ngày,
Chúa Bà gia hộ mỗi ngày một hơn.Người bất kính sai nhờn chẳng kể,
Phạm uy Bà Chúa tể sơn thanh.
Lá cây năm ngọn năm cành,
Bắt hồn nhốt vía cho xanh mặt này.Ai sơ ý ra tay trạc quyết,
Trói ba ngày thời biết chạy đâu.
Tỉnh ra quỳ gối khấu đầu,
Xin Bà buông thứ cho mau mà về.Khắp mường động, sơn khê từ đấy,
Trẻ cùng già ai nấy cúc cung.
Tôn danh Mường Tổ Sơn Trung,
Đội ơn che chở khắp vùng Đà Giang.Nào Pà Cò, Ba Khan, Thượng Tiến,
Từ Pu Canh cho đến Pù Luông.
Thung Khe, Thung Nhuối, Ngổ Luông,
Bi, Vang, Thàng, Động, các mường vui thay.Chợt mới thấy cành cây làm võng,
Thoắt đã về trong động lánh mưa.
Phép tiên đã đắc thượng thừa,
Tiêu dao các xứ sớm trưa mặc lòng.Khi thích chí Thiên Long, Đá Bạc,
Động Tiên Phi lại thác Thăng Thiên.
Hoa Sơn, Pù Noọc, Hoa Tiên,
Thung Nai, hang Rết càng thêm thú mầu.Khi Mỏ Luông, Mai Châu, Bản Lác,
Khi qua về Cửu Thác dừng chân.
Đông Sơn là chốn hóa thần,
Mười hai tháng chín, năm Dần hồi tiên.Lại theo phép tông thiền nhập định,
Chốn cửu trùng tập tính công phu.
Quên ngày quên tháng luyện tu,
Chúa Bà chứng đắc Chân Như đạo mầu.Chúng mường thổ khẩn cầu tất ứng,
Lập linh từ cung phụng đèn hương.
Chú thiêng lưu lại xứ Mường,
Mật ngôn độn quyết bốn phương hãi hùng.Ai hữu sự cúc cung khẩn đảo,
Bà giáng đồng lai đáo trần gian.
Tiên tri, bóc bệnh, hộ đàn,
Khuông phù đồng tử bình an, vượng tài.Tục lưu truyền mười hai tháng chín,
Tiệc Chúa Mường Diệu Tín hách danh.
Nay con một dạ kính thành,
Sơn Trang dạo khúc cầm thanh rộn ràng.Xin Chúa Bà gia ban phúc lộc,
Độ muôn người bội gốc sai hoa.
Trong khi xênh phách cầm ca,
Sai ngôn thất ý, xin Bà khai ân.
Một số bản chép câu “Mượn cửa làm cốt nhục hiện thân” thành “Mượn cửu làm cốt nhục hiện thân”; “tháng Mão” thành “tháng Máo”; tên “Quách” cũng từng bị viết sai do quá trình đánh máy. Việc hiệu đính chỉ nhằm giúp câu văn dễ hiểu hơn, không có nghĩa đây là phiên bản duy nhất hoặc bản cổ nguyên gốc.
Không gian núi rừng Hòa Bình trong bản văn
Một trong những điểm nổi bật nhất của bản văn Chúa Bà Đệ Nhị Sơn Trang Tổ Mường là mật độ địa danh dày đặc. Ngay từ những khổ đầu, tác phẩm đã mở ra cảnh núi rừng:
Hòa Bình cảnh địa dư tích cũ,
Chốn lâm sơn khí tụ xưa nay.
Sau đó là một chuỗi tên gọi: Mai Đà, sông Đà, núi Đầu Rồng, Đông Sơn, Pà Cò, Ba Khan, Thượng Tiến, Pù Luông, Thung Khe, Ngổ Luông, Thung Nai, Mỏ Luông, Mai Châu, Bản Lác và nhiều hang động, thác nước khác.
Sông Đà là trục kết nối của không gian thiêng
Sông Đà xuất hiện nhiều lần trong bản văn. Dòng sông không chỉ là một yếu tố địa lý mà còn giữ vai trò kết nối núi rừng, bản mường và hành trình của vị Chúa Bà. Trong tưởng tượng dân gian, sông vừa là ranh giới, vừa là con đường giao thông, nguồn sinh kế và không gian thử thách.
Chi tiết chiếc lá có chữ được thả theo dòng nước để tìm người đủ trí tuệ tiếp nhận phép truyền cũng đặt sông Đà vào vai trò trung gian giữa người thầy và người học trò. Dòng nước vì thế mang ý nghĩa của duyên gặp gỡ và sự truyền trao tri thức thiêng.
Núi, động và thác là nơi ngự trị
Núi Đầu Rồng, động Tiên Phi, thác Thăng Thiên, hang Rết và những địa danh có yếu tố “thung”, “pù”, “mỏ” tạo nên một bản đồ núi rừng rộng lớn. Bà không được miêu tả là chỉ ngự cố định tại một nơi mà có thể đi khắp các mường, khi ở trong động, khi trên đèo, khi bên thác, khi qua làng bản.
Cách miêu tả ấy phù hợp với hình tượng thần núi trong tín ngưỡng dân gian. Quyền năng của vị thần thường được biểu hiện bằng khả năng hiện diện trên một vùng rộng, bảo vệ nhiều cộng đồng có chung môi trường sống và mối liên hệ văn hóa.
Địa danh vừa có thực vừa mang tính ký ức
Nhiều tên trong bản văn có thể nhận ra trên bản đồ hiện nay, nhưng cũng có tên được ghi theo cách gọi cũ, tiếng địa phương hoặc trí nhớ của người truyền văn. Địa giới hành chính đã nhiều lần thay đổi, trong khi tên bản, tên núi, tên hang và tên mường có thể tồn tại lâu hơn các đơn vị quản lý nhà nước.
Do đó, không nên dùng riêng bản văn để xác định địa chỉ hành chính hoặc khẳng định một địa điểm là nơi thờ chính của Chúa Bà. Muốn giới thiệu một ngôi đền cụ thể, cần kiểm tra tên chính thức, địa chỉ hiện hành, đơn vị quản lý, hồ sơ di tích và truyền thống thờ phụng tại chỗ.
Ý nghĩa của danh hiệu “Diệu Tín Thiền Sư”
Danh hiệu Diệu Tín Thiền Sư xuất hiện rõ ở đoạn cuối:
Tục lưu truyền mười hai tháng chín,
Tiệc Chúa Mường Diệu Tín hách danh.
“Diệu Tín” có thể được hiểu theo nghĩa văn chương là niềm tin sâu sắc, tốt đẹp hoặc nhiệm mầu. “Thiền Sư” vốn là danh xưng liên quan đến người tu thiền, nhưng trong bối cảnh bản văn, danh hiệu này đã được dân gian hóa và đặt bên cạnh các yếu tố Sơn Trang, chú Mường, Cửu Cung và Tam Thanh.
Không có đủ căn cứ để khẳng định Chúa Bà từng là một tu sĩ Phật giáo theo nghĩa lịch sử. Danh hiệu Thiền Sư ở đây nên được đọc như bộ phận của thần tích, thể hiện quá trình tu luyện, nhập định và đạt đến trạng thái linh thiêng trong tưởng tượng cộng đồng.
“Chân Như” cũng là thuật ngữ Phật giáo, thường chỉ thực tại chân thật, vượt khỏi những phân biệt và vọng tưởng. Khi được đưa vào hát văn, khái niệm này không còn được trình bày thành một học thuyết triết học mà trở thành lời ca ngợi sự chứng đắc của vị Chúa Bà.
Sự vay mượn thuật ngữ không đồng nghĩa bản văn là kinh Phật hoặc Chúa Bà là một nhân vật thuộc hệ thống giáo lý chính thức của Phật giáo. Việc phân biệt này giúp tôn trọng cả tín ngưỡng dân gian và truyền thống tôn giáo.
Đặc điểm nghệ thuật của bản văn
Sử dụng thể thơ lục bát và biến thể
Phần lớn bài văn được viết theo thể lục bát, nhưng số tiếng ở một số câu có thể co giãn. Đây là điều thường gặp trong hát văn bởi lời thơ còn phải phù hợp với làn điệu, nhịp phách và cách xử lý của cung văn.
Khi được hát, những tiếng đệm, tiếng ngân, câu nhắc hoặc đoạn chuyển điệu có thể được thêm vào. Vì thế, văn bản để đọc và lời trình diễn thực tế không nhất thiết giống nhau hoàn toàn.
Lời văn giàu từ Hán Việt
Các từ như chủ trưởng, địa dư, chung tú, Cửu Cung, càn khôn, tứ hải, tiên cốt, nhỡn quang, Tam Thanh, cúc cung, khẩn đảo, lai đáo và khuông phù tạo nên giọng trang trọng, cổ kính.
Bên cạnh đó là từ ngữ mang màu sắc địa phương như mường, dòng lang, chú Mường, nèm Mường, pù, thung và tên các bản vùng cao. Hai lớp từ vựng đặt cạnh nhau làm nên diện mạo riêng của bài văn: vừa trang nghiêm theo phong cách chầu văn, vừa gắn chặt với không gian miền núi.
Liệt kê địa danh tạo cảm giác hành trình
Đoạn liệt kê Pà Cò, Ba Khan, Pù Luông, Thung Khe, Thung Nai, Mỏ Luông, Mai Châu và Bản Lác khiến lời văn giống một cuộc tuần du của Chúa Bà.
Kỹ thuật này có nhiều tác dụng. Nó mở rộng phạm vi quyền uy của nhân vật, khơi gợi sự gần gũi với người nghe ở từng địa phương và biến cảnh quan quen thuộc thành không gian thiêng. Khi một tên núi, tên mường được xướng lên trong tiếng đàn, trống và phách, người dự lễ có thể cảm nhận địa phương của mình đã trở thành một phần của câu chuyện.
Hình ảnh thiên nhiên sinh động
Mưa xuân, non mây, sông nước, cỏ cây, hùm beo, chim rừng, hang động và thác nước xuất hiện xuyên suốt bài văn. Thiên nhiên không phải phông nền im lặng mà trực tiếp tham gia câu chuyện: thú rừng nuôi nhân vật, chim mang chữ, nước đưa lá đến người có duyên, núi động trở thành nơi tu luyện.
Nhìn từ góc độ văn hóa, đây là dấu hiệu của lối sống gắn bó chặt chẽ với hệ sinh thái miền núi. Con người vừa nương nhờ tự nhiên, vừa kính sợ sức mạnh của tự nhiên và gửi gắm mong ước bình an vào hình tượng thần linh.
Một số từ cổ và câu khó hiểu trong bản văn
Do được truyền chép qua nhiều người, bản văn có những từ khó xác định. Không nên tùy tiện sửa toàn bộ theo ngôn ngữ hiện đại, bởi một chữ tưởng là sai có thể là âm địa phương hoặc dấu vết của dị bản cũ.
“Chủ trưởng”
Trong câu “Ngôi Đệ Nhị quyền thay chủ trưởng”, từ này có thể chỉ người giữ quyền đứng đầu hoặc thay mặt bậc chủ quản. Câu thơ nhằm khẳng định địa vị cao của Chúa Đệ Nhị trong hàng Sơn Trang.
“Chung tú”
“Chung tú” thường được hiểu là nơi hội tụ vẻ đẹp, khí thiêng hoặc những gì tinh túy. “Cảnh vật khoe một nền chung tú” ca ngợi vùng đất có núi sông đẹp đẽ và linh khí hội tụ.
“Dòng lang”
“Lang” gắn với tầng lớp đứng đầu mường trong cơ cấu xã hội cổ truyền. “Dòng lang tích phúc” có thể hiểu là dòng họ có địa vị và đã tích nhiều phúc đức.
“Kim mao bạch diện”
Nếu hiểu theo nghĩa chữ, cụm từ chỉ tóc hoặc lông màu vàng và khuôn mặt trắng. Trong văn chương tín ngưỡng, đây có thể là cách tả dung mạo khác thường, không nhất thiết phản ánh đặc điểm nhân chủng hay ngoại hình có thật.
“Hà Thư”
Bản văn đặt từ này trong dấu nhấn như tên một bài chú, văn tự hoặc phép truyền. Chưa đủ căn cứ để đồng nhất “Hà Thư” với một văn bản Đạo giáo cụ thể hay với khái niệm Hà Đồ, Lạc Thư.
“Nèm Mường”
“Nèm” thường được nhắc trong một số truyền thống nghi lễ miền núi, liên quan đến lời niệm, phép làm hoặc tri thức của thầy cúng. Nghĩa cụ thể có thể khác nhau giữa các địa phương và cộng đồng.
“Khất khai thần phiến”
Đây là một trong những cụm từ khó xác định. “Thần phiến” có thể liên quan đến chiếc quạt thiêng hoặc động tác khai quang bằng quạt trong nghi lễ, nhưng cần thêm tư liệu từ người trực tiếp lưu giữ bản văn mới có thể giải nghĩa chắc chắn.
“Khuông phù”
“Khuông phù” mang nghĩa nâng đỡ, phù trợ hoặc giữ cho ngay chính. Câu “Khuông phù đồng tử bình an, vượng tài” là lời cầu mong sự che chở đối với người thực hành và cộng đồng dự lễ.
“Bội gốc sai hoa”
Câu “Độ muôn người bội gốc sai hoa” có thể gợi hình ảnh cây cối nhiều gốc, nhiều cành, sai hoa trái, dùng để tượng trưng cho sự sinh sôi và thịnh đạt. Tuy nhiên, đây cũng có thể là một câu đã bị biến âm trong quá trình truyền chép.
Giá trị văn hóa của bản văn Chúa Đệ Nhị Tổ Mường
Lưu giữ ký ức địa phương
Bản văn ghi lại một mạng lưới địa danh rộng lớn. Ngay cả khi một số tên gọi chưa thể xác định chính xác, chúng vẫn phản ánh cách cộng đồng hình dung về vùng đất của mình.
Đó không phải một bản đồ hành chính mà là bản đồ ký ức: nơi có sông lớn, núi thiêng, hang động, bản cổ, dòng lang và những tuyến đường qua rừng. Thần tích giúp liên kết các địa điểm rời rạc thành một không gian văn hóa chung.
Tôn vinh hình tượng nữ thần miền núi
Chúa Bà vừa có nét dịu dàng của người nữ, vừa mang vẻ mạnh mẽ của người đứng đầu. Bà sinh ra trong hình hài nữ nhi nhưng được miêu tả “hùng hào quân tử”, có khả năng học đạo, cai quản muông thú và che chở nhiều mường.
Hình tượng ấy thể hiện sự tôn trọng đối với vai trò của người phụ nữ trong đời sống tinh thần. UNESCO cũng nhấn mạnh rằng tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần đề cao lòng từ bi của các Thánh Mẫu và tạo nên những mối liên kết xã hội trong cộng đồng thực hành.
Cho thấy sự giao lưu Kinh – Mường và các vùng miền
Bản văn được viết chủ yếu bằng tiếng Việt, theo thể lục bát và ngôn ngữ chầu văn, nhưng chứa nhiều địa danh, từ ngữ và hình tượng của không gian Mường. Đây là dấu hiệu của quá trình giao lưu lâu dài giữa các cộng đồng miền núi và đồng bằng.
Không nên đơn giản hóa sự giao lưu ấy thành việc một cộng đồng hoàn toàn vay mượn của cộng đồng khác. Tín ngưỡng dân gian thường được tạo nên bằng quá trình gặp gỡ, chọn lọc và tái diễn giải qua nhiều thế hệ.
Bảo tồn nghệ thuật chầu văn
Giá trị của bản văn không chỉ nằm ở câu chữ. Khi được trình diễn, nó kết hợp giọng hát, đàn nguyệt, trống, phách, cảnh, thanh la và nghệ thuật ứng tác của cung văn.
Một bản chép chỉ lưu được phần lời, chưa thể thay thế toàn bộ di sản trình diễn. Vì vậy, bảo tồn chầu văn cần quan tâm đồng thời đến nghệ nhân, làn điệu, kỹ thuật đàn hát, không gian nghi lễ và cách truyền dạy trực tiếp.
Cục Di sản văn hóa cho biết những người nắm giữ lời văn và kỹ năng hát đàn truyền thống thường truyền dạy tại chỗ từ đời này sang đời khác. Quá trình truyền khẩu giúp di sản sống động nhưng cũng làm xuất hiện nhiều dị bản.