Bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường: tìm hiểu danh xưng, nội dung, biểu tượng và giá trị trong nghệ thuật chầu văn.
Bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường là một bài văn thỉnh được lưu truyền trong một bộ phận cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Sơn Trang. Nội dung bản văn hướng đến việc cung thỉnh một vị nữ thần thuộc miền rừng núi, ca ngợi cảnh sắc sơn lâm, quyền năng chế ngự những thế lực gây hại và sự bảo trợ dành cho cư dân sinh sống tại các bản mường.
Đây không phải một văn bản lịch sử theo nghĩa thông thường. Những chi tiết về thời Hồng Bàng, sắc phong, thần pháp, việc hàng phục yêu tà hay truyền dạy phép thiêng trước hết thuộc ngôn ngữ thần tích và diễn xướng tín ngưỡng. Khi tìm hiểu, cần phân biệt hình tượng thiêng trong bản văn với một nhân vật có tiểu sử, niên đại và hành trạng đã được sử liệu xác nhận.
Danh tính Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang cũng chưa được các cộng đồng giải thích hoàn toàn thống nhất. Trong một dòng truyền thừa, Chúa được gọi là Diệu Nghĩa Thiền Sư, Quế Hoa Công chúa hoặc Đệ Tam Tổ Mường. Trong những cách sắp xếp khác, danh xưng Chúa Đệ Tam lại được dùng cho Chúa Lâm Thao, thường gọi là Chúa Ót. Vì vậy, bài viết tập trung giải nghĩa bản văn và bối cảnh văn hóa của danh hiệu “Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường”, không khẳng định mọi cách gọi trên đều chỉ cùng một vị thần.

Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường là ai?
Một vị Chúa thuộc không gian Sơn Trang
Trong điện thần thờ Mẫu, Sơn Trang là miền thiêng gắn với núi rừng, cây cỏ, muông thú và đời sống của các cộng đồng miền sơn cước. Hình tượng các Thánh Mẫu, Chúa, Chầu, Cô thuộc miền rừng núi thể hiện cách người xưa cảm nhận thiên nhiên như một không gian vừa cung cấp nguồn sống, vừa chứa đựng những sức mạnh khó đoán định.
Hồ sơ và tư liệu giới thiệu về Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ cho thấy điện thần không chỉ tiếp nhận các nhân vật có nguồn gốc từ cộng đồng người Kinh mà còn có nhiều vị gắn với người Mường, Tày, Nùng, Dao và những vùng văn hóa miền núi. Trang phục, âm nhạc và một số làn điệu mang sắc thái sơn cước phản ánh quá trình giao lưu lâu dài giữa các cộng đồng.
Trong dòng bản văn đang được tìm hiểu, Chúa Bà Đệ Tam hiện lên như một nữ thần cai quản hoặc bảo trợ miền Sơn Trang. Bà gắn với hang động, rừng sâu, nương rẫy, cây thuốc, các châu bản và cư dân miền núi. Hình tượng ấy không nhất thiết bắt nguồn từ một thần tích duy nhất, mà có thể được hình thành qua nhiều lớp truyện kể địa phương, tín ngưỡng nữ thần và sự hệ thống hóa điện thần thờ Mẫu.
Danh hiệu Diệu Nghĩa Thiền Sư và Quế Hoa Công chúa
Một cách sắp xếp khá phổ biến trong tư liệu truyền miệng về Tam tòa Sơn Trang nêu ba danh hiệu:
| Thứ bậc | Danh hiệu thường được nhắc đến |
|---|---|
| Sơn Trang Đệ Nhất | Lê Mại Đại Vương, Bạch Anh Công chúa |
| Sơn Trang Đệ Nhị | Diệu Tín Thiền Sư, La Bình Công chúa |
| Sơn Trang Đệ Tam | Diệu Nghĩa Thiền Sư, Quế Hoa Công chúa |
Theo cách giải thích này, Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang chính là Diệu Nghĩa Thiền Sư hoặc Quế Hoa Công chúa, một trong ba vị Chúa được phụng thờ tại tòa Sơn Trang. Tuy nhiên, đây là hệ thống danh xưng được cộng đồng thực hành lưu truyền, chưa thể coi là một bảng thần điện duy nhất được mọi đền phủ và mọi dòng đồng cùng công nhận. Chính các tư liệu phổ biến trong cộng đồng cũng ghi nhận sự tồn tại của nhiều quan điểm khác nhau về Tam Vị Chúa Mường.
Cụm từ “Thiền Sư” trong danh hiệu cũng không nhất thiết cho thấy Chúa là một tu sĩ Phật giáo có tiểu sử xác định. Trong thần hiệu dân gian, các từ như “thiền sư”, “công chúa”, “đại vương”, “thánh mẫu” hoặc “tiên chúa” đôi khi được kết hợp qua quá trình tôn xưng, tiếp biến và thiêng hóa. Muốn xác định một danh hiệu thuộc lớp tư liệu nào cần có thêm thần tích, sắc phong, bia ký hoặc bản chép cổ tại từng cơ sở thờ tự.
Ý nghĩa của danh xưng “Tổ Mường”
Trong ngôn ngữ bản văn, “Tổ Mường” có thể được hiểu là vị nữ thần được suy tôn ở ngôi vị tổ, người khai mở, truyền dạy hoặc bảo trợ đời sống của cư dân các bản mường. Danh xưng này thể hiện sự tôn kính trong tín ngưỡng, không nên diễn giải thành kết luận rằng Chúa là tổ tiên lịch sử duy nhất của toàn thể người Mường.
Khái niệm “mường” trong văn cảnh cổ còn có thể chỉ một vùng cư trú, một đơn vị cộng đồng hoặc một miền sơn cước, chứ không phải lúc nào cũng chỉ riêng tên một dân tộc theo cách phân loại hiện nay. Bởi vậy, “Sơn Trang Tổ Mường” có thể mang nghĩa rộng là bậc nữ thần tổ của các vùng bản mường thuộc miền rừng núi.
Cách hiểu này phù hợp với hình tượng của Chúa trong bài văn: lựa chọn nơi núi cao, hang sâu làm chốn ngự; gần gũi người đi nương, hái củi, đào măng; bảo hộ cư dân trước những nguy hiểm của rừng thiêng và truyền dạy tri thức được người xưa xem là bí truyền.
Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang có phải Chúa Đệ Tam Lâm Thao không?
Đây là điểm thường gây nhầm lẫn khi tìm hiểu Tam Vị Chúa Mường.
Theo một cách sắp xếp, Tam Vị Chúa Mường gồm Chúa Đệ Nhất Tây Thiên, Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ và Chúa Đệ Tam Lâm Thao. Chúa Lâm Thao còn được gọi là Chúa Ót, gắn với những truyền thuyết tại vùng Cao Mại, Lâm Thao, Phú Thọ. Một số bản văn về Chúa Lâm Thao mở đầu bằng địa danh quê nhà và ca ngợi Chúa là nữ tướng hoặc người có tài giúp dân.
Trong khi đó, bản văn mang tên Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường lại gọi Chúa bằng danh hiệu Diệu Nghĩa và đặt phần lớn hành trạng trong không gian hang động, rừng núi, bản mường. Dòng văn này gần với cách sắp xếp Tam tòa Sơn Trang gồm Lê Mại, Diệu Tín và Diệu Nghĩa hơn là bộ ba Tây Thiên, Nguyệt Hồ và Lâm Thao. Các nguồn lưu truyền trong cộng đồng hiện nay cũng cho thấy hai cách sắp xếp cùng tồn tại và chưa có sự thống nhất tuyệt đối.
Do đó, không nên mặc nhiên đồng nhất Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường với Chúa Đệ Tam Lâm Thao. Tại một số nơi, quá trình giao thoa tín ngưỡng có thể khiến danh hiệu, thần tích và nghi thức của các vị được liên hệ với nhau; nhưng khi trình bày, cần giữ nguyên tên gọi của từng bản văn và ghi rõ dòng truyền thừa đang được trình bày.
Tương tự, quan điểm cho rằng Chúa Đệ Tam chính là một vị được thờ ở Thác Bờ cũng là một cách giải thích địa phương hoặc cách phối thờ của một số cộng đồng. Chưa có đủ căn cứ để sử dụng cách giải thích đó như danh tính chung cho mọi bản văn mang tên Đệ Tam Sơn Trang.
Bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang được dùng trong hoàn cảnh nào?
Bản văn trong nghệ thuật hát chầu văn
Bản văn là phần lời dùng để ca ngợi công đức, kể thần tích, miêu tả dung nghi và cung thỉnh một vị thánh. Khi được thể hiện bằng giọng hát cùng đàn nguyệt, phách, trống và những nhạc cụ phù hợp, bản văn trở thành một thành tố của nghệ thuật hát chầu văn.
Trong nghi lễ thờ Mẫu, hát văn không chỉ có chức năng âm nhạc. Lời văn giúp người tham dự nhận biết vị thánh đang được cung thỉnh, miền phủ mà vị ấy đại diện, phục sức, tính cách và những biểu tượng gắn với giá hầu. Âm nhạc, lời ca, trang phục và động tác nghi lễ kết hợp thành một chỉnh thể diễn xướng.
Các tư liệu của cơ quan quản lý di sản mô tả chầu văn là một thực hành gắn với điện thần Tứ phủ, có sự kết hợp giữa lời ca, nhạc cụ, trang phục và đạo cụ. Loại hình này được lưu truyền ở nhiều địa phương miền Bắc và Bắc Trung Bộ, đồng thời liên tục được cộng đồng tái tạo để thích nghi với đời sống đương đại.
Bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang có thể được cung văn sử dụng khi dâng văn tại ban Sơn Trang, trong một nghi thức có thỉnh Chúa hoặc trong chương trình giới thiệu nghệ thuật chầu văn. Tuy nhiên, cách hát, độ dài và trật tự các đoạn không nhất thiết giống nhau ở mọi nơi.
Không có một bản lời duy nhất cho mọi cộng đồng
Hát văn chủ yếu được trao truyền qua quá trình học nghề, nghe, nhớ, thực hành và ghi chép. Cung văn có thể sử dụng một bản dài để kể đầy đủ thần tích, nhưng cũng có thể chỉ hát phần thỉnh, phần ca ngợi hoặc phần chúc tụng phù hợp với thời lượng nghi lễ.
Một số câu được thay đổi do cách phát âm, trí nhớ của người hát, lối chép chữ Hán Việt hoặc quá trình truyền qua nhiều thế hệ. Những từ cổ ít được sử dụng dễ bị chép thành các dạng khác nhau. Vì thế, khi gặp hai bản có một số câu không giống nhau, không nên vội kết luận một bản hoàn toàn đúng còn bản kia hoàn toàn sai.
Bản đang lưu hành trên Văn Hóa Tâm Linh mở đầu bằng hai câu:
“Nhang nhất triện lòng thành dâng tiến
Cung thỉnh mời tiên chúa Đệ Tam”
Sau phần cung thỉnh, bài văn chuyển sang kể nguồn tích, miêu tả cảnh Sơn Trang, quyền phép của Chúa, cuộc sống của cư dân bản mường và lời cầu thỉnh ở cuối bài.
Trong bản chép này còn có cụm “Thuyền Lâm Diệu Nghĩa”. Do chưa có bản chụp văn bản cổ, chữ Nôm hoặc thông tin về người truyền bản để đối chiếu, không nên tự ý sửa “Thuyền Lâm” thành một từ khác chỉ dựa trên suy đoán. Khi xuất bản, có thể giữ nguyên và chú thích đây là cách chép trong dị bản đang sử dụng.
Bố cục và nội dung chính của bản văn
Bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường
Dưới đây là một dị bản đang được lưu truyền trong cộng đồng thực hành hát chầu văn. Do phương thức truyền khẩu và sao chép qua nhiều đời, câu chữ có thể khác nhau giữa các bản hội, cung văn và địa phương.
Nhang nhất triện lòng thành dâng tiến
Cung thỉnh mời tiên chúa Đệ Tam
Phương danh lưu thuở Hồng Bàng
Thuyền Lâm Diệu Nghĩa Sơn Trang Tổ Mường.
Phong Sơn động đường đường hách trạc
Cảnh Long Đầu họa tạc danh linh
Hồng Bàng từ thuở khai sinh
Rừng thiêng núi thẳm những tinh cùng tà.
Việt nhân thời nan qua khổ ải
Thương dân phàm xin cải hiện thân
Ngọc Hoàng mến cảm lòng nhân
Chiếu phê chấp nguyện phong vân đùng đùng.
Lại sai thêm tùy tùng bộ tướng
Lĩnh lệnh bài “ngâm Phượng chi thi”
Theo chân “Mạn trược thanh y”
Giáng vào các họ hộ trì chủ nương.
Chọn cảnh vắng xứ Mường heo hút
Dải long trường vun vút ngọn xanh
Trong hang nhũ tím buông mành
Ngoài thời long nhẫn nước xanh đêm ngày.
Cảnh đặt để vui vầy tùng trúc
Chẳng phải trời ai đúc mà nên
Nam thiên sấm động vang rền
“Tùy xa vân phủng thượng lên nham đầu”.
Phép tàng tu huyễn màu chí diệu
Luyện phù thời chuyển chú ghê thay
Lão Quân bí pháp ra tay
Tác uy thảo mộc lá cây luyện bài.
Trì chú hết trong đài ngoài động
Lá cây rừng buông thõng lả lơi
Quỷ tà tán vía bạt hơi
Còn đâu là bóng, biết đâu là hình.
Lũ yêu tinh hiện mình quy phục
Phép bà ra mỗi lúc một ghê
Mường dân bách chúng sơn khê
Lên nương lên rẫy đi về hôm mai.
Bà cho biết thần oai thánh lực
Phép tàng hình mắt tục khôn hay
Trêu người bà mới ra tay
Trêu cho hồn vía đêm ngày thất kinh.
Đang yên ắng thình lình tiếng nhại
Ngó bên này lại ngoái bên kia
Ô hay sự lạ chưa kìa
Bên này không bóng, bên kia vắng người.
Chợt nghe thấy tiếng cười khanh khách
Tưởng đâu là tiếng vách tiếng hang
Ai hay cô dí cô nàng
Cô vần trước mặt, cô quàng đằng sau.
Cô vuốt tóc, xoa đầu, sờ má
Cô sợi thừng, cành lá bẻ bươi
Râm ran chẳng ngớt nói cười
Tiếng thời giáp mặt mà người nơi nao.
Lại bất chợt ào ào như gió
Rủ về miền núi đỏ thung thâm
Líu lô ca hát bổng trầm
Tiếng Mường tiếng Mán, nhịp cầm nhịp xênh.
Lúc ngắm cảnh chênh vênh sườn núi
Khi hiện người hái củi đào măng
Thần thông khê hạ sơn đăng
Thảnh thơi hang động, dung dăng quán lầu.
Tiếng dậy khắp các châu các bản
Chúng sơn dân Mường Mán bảo nhau
Rừng trong núi thẳm thung sâu
Có bà thần nữ phép mầu tối linh.
Trị khắp hết tà tinh quỷ dữ
Muốn các Mường, các xứ bình an
Thời vào cung kính thần ngàn
Xin bà bảo hộ cho an tháng ngày.
Kể từ đó ra tay chiêu khán
Trấn quỷ tà, trừ nạn cho dân
Thấy ai “đạo cốt cư trần”
Bà đem truyền dạy chú thần bùa thiêng.
Phép tàng tu lưu truyền từ đấy
Quyết mo phù đã dạy thế gian
Lên non, đi suối, về ngàn
Tuyên danh thần nữ được an mọi bề.
Hết lệnh trời cải về tiên tính
Lưu nhân gian đức chính hình dong
Lịch triều truy tặng sắc phong
Thuyền Lâm Diệu Nghĩa vốn dòng Sơn Trang.
Chữ khấn rằng Đệ Tam Mường Tổ
Xưa giáng trần tế độ sinh nhân
Sắc cho Mường Mán sơn dân
Phụng thờ nhang khói, mong ân đời đời.
Ai hữu sự đem lời tấu đối
Sắm cau trầu sám hối Chúa Tiên
Hữu cầu tất ứng tự nhiên
Đỉnh khai cửu chuyển, khe liền núi thông.
Hoặc dù ai kiều đồng bắc ghế
Thiết đàn tràng nghi lễ thành tâm
Cậy nhờ đến phép sơn lâm
Khẩn cầu Tiên Chúa giáng lâm tức thời.
Đã thỉnh cầu kêu mời xuất động
Đem “phi phù ấn phóng” càn khôn
Ầm ầm kèn giục trống dồn
Tứ phương khói tỏa, bát môn vang lừng.
Khoác thanh y, ngự lưng bạch tượng
Các thị hầu mãnh tướng theo sau
Bà truyền cấp cấp cho mau
Phù đồng thiếp tính bảo nhau chớ phiền.
Thọ trường niên, được yên gia sự
Phúc mãn đường, tôn tử thông hanh
Nay con một dạ kính thành
Sơn Trang dạo khúc cầm thanh rộn ràng.
Xin Chúa Bà gia ban phúc lộc
Độ muôn người bội gốc sai hoa
Trong khi xênh phách cầm ca
Sai ngôn thất ý, xin bà khai ân.
Lưu ý khi đọc bản văn
Bản văn trên thuộc loại hình văn học diễn xướng tín ngưỡng, không phải tài liệu lịch sử ghi chép trực tiếp về một nhân vật có tiểu sử đã được xác nhận. Những nội dung nói về phép tàng hình, bùa chú, yêu tinh, sắc lệnh của Ngọc Hoàng hoặc khả năng trừ tà nên được hiểu trong thế giới biểu tượng và quan niệm dân gian.
Một số chữ như “Thuyền Lâm”, “Mạn trược thanh y”, “long nhẫn”, “kiều đồng bắc ghế” và “phù đồng thiếp tính” hiện có thể được chép hoặc giải thích khác nhau. Khi chưa tìm được bản cổ, bản chữ Nôm hay thông tin đáng tin cậy từ người truyền dạy, người biên soạn không nên tự ý thay đổi câu chữ rồi coi đó là bản chính xác duy nhất.
Phần cung thỉnh và giới thiệu phương danh
Mở đầu bản văn là nghi thức dâng hương bằng lời. Người hát bày tỏ lòng thành, thỉnh mời Chúa Bà Đệ Tam và xưng tụng phương danh của Chúa.
Lối mở đầu này có chức năng xác định đối tượng được cung thỉnh. Trong hát văn, việc nêu đúng hàng bậc và danh hiệu không chỉ giúp bài hát có bố cục rõ ràng mà còn thể hiện sự trang trọng của không gian nghi lễ.
Ngay trong những câu đầu, bản văn đưa người nghe trở về “thuở Hồng Bàng”. Đây là cách đặt thần tích vào thời đại khởi nguyên của dân tộc, thường gặp trong truyền thuyết và văn học tín ngưỡng. Chi tiết ấy có ý nghĩa tạo nên tính cổ kính, nhưng không đủ để xác định niên đại thực của nhân vật hoặc thời điểm bản văn ra đời.
Không gian Phong Sơn, Long Đầu và rừng thiêng
Sau lời thỉnh, bản văn mở ra một thế giới sơn lâm với núi cao, hang nhũ, nước chảy, tùng trúc và những vùng cư trú hẻo lánh. Cảnh vật không chỉ làm nền mà còn xác lập lãnh địa thiêng của Chúa.
Núi trong quan niệm dân gian vừa là nơi con người nương tựa để khai thác lâm sản, trồng trọt và tìm cây thuốc, vừa là vùng khó kiểm soát với thú dữ, vực sâu, bệnh tật và những hiện tượng thiên nhiên bất thường. Việc hình dung một vị nữ thần cai quản Sơn Trang giúp cộng đồng gửi gắm mong muốn sống hài hòa với môi trường và được bảo vệ khi đi rừng, làm nương.
Các nghiên cứu về quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu cũng chỉ ra mối liên hệ lâu dài giữa hình tượng nữ thần với môi trường rừng núi, cây cối, sông nước và sự mở rộng không gian cư trú của người Việt. Hình tượng Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm và các thần núi được bồi đắp qua nhiều giai đoạn văn hóa khác nhau.
Các địa danh “Phong Sơn” và “Long Đầu” trong bản văn cần được tiếp cận thận trọng. Chúng có thể là tên một không gian thờ cụ thể, tên mang tính biểu tượng hoặc cách gọi đã biến đổi qua truyền khẩu. Khi chưa tìm được thần tích hay tư liệu địa phương đáng tin cậy, không nên tự xác định đây là một địa điểm hành chính hiện nay.
Chúa hiện thân để giúp dân
Theo mạch kể của bản văn, cư dân gặp nhiều khổ ải giữa rừng núi nên Chúa xin hiện thân để giúp đỡ. Ngọc Hoàng chấp thuận, ban lệnh và cho thêm tùy tùng, bộ tướng cùng Chúa xuống miền sơn cước.
Đây là mô típ phổ biến trong thần tích: một vị thần từ cõi thiêng giáng xuống trần gian vì thương dân, sau đó dẹp trừ nguy hại, thiết lập trật tự và được cộng đồng thờ phụng. Mô típ ấy đề cao hình tượng vị thần nhân từ nhưng có uy quyền, kết hợp phẩm chất của người mẹ che chở với vị nữ chủ cai quản một lãnh địa.
Hành động “thương dân” là hạt nhân đạo đức của câu chuyện. Quyền năng của Chúa không chỉ nhằm biểu hiện sự kỳ bí mà được lý giải bằng mục tiêu bảo vệ cộng đồng, giúp người dân yên tâm lên nương, xuống suối và trở về nhà.
Những đoạn kể về phép thuật và yêu tà
Một phần đáng kể của bản văn sử dụng hình ảnh phù chú, phép tàng hình, cây lá linh thiêng, quỷ dữ và những tiếng động lạ trong rừng. Theo quan niệm dân gian, các hiện tượng khó lý giải trong môi trường hoang vắng có thể được gắn với thần linh hoặc ma quỷ.
Những chi tiết này cần được hiểu trong thế giới biểu tượng của bản văn. Chúng không phải bằng chứng khoa học về sự tồn tại của phép tàng hình, bùa chú hay yêu tinh. Cũng không nên dựa vào lời văn để tuyên truyền rằng một nghi thức có thể chữa bệnh, thay đổi số phận hoặc loại bỏ mọi tai họa.
Ở tầng nghĩa văn hóa, việc Chúa khuất phục những thế lực gây sợ hãi biểu thị sự chuyển đổi từ hỗn loạn sang trật tự. Rừng núi từ một miền đầy bất trắc trở thành nơi có vị thần cai quản. Con người có thêm chỗ dựa tinh thần để đối diện với thiên nhiên và những rủi ro của đời sống.
Những đoạn Chúa hoặc các tiên nàng trêu người, phát tiếng cười, tạo tiếng động từ phía này sang phía khác còn làm cho bản văn giàu tính diễn xướng. Cung văn có thể thay đổi tiết tấu và cách nhấn giọng để gợi cảm giác kỳ ảo, lúc xa lúc gần, phù hợp với khung cảnh núi rừng.
Đời sống bản mường trong lời văn
Bản văn nhiều lần nhắc đến người lên nương, đi rẫy, hái củi, đào măng, qua suối và về ngàn. Đây là những chi tiết gần với đời sống lao động của cư dân miền núi.
Hình ảnh ấy cho thấy bản văn không chỉ kể chuyện trên cõi thần. Nó còn lưu giữ ký ức về phương thức sinh sống dựa vào núi rừng, về các tuyến đường đi bộ, hang động, khe nước và những sản vật tự nhiên. Trong không gian ấy, Chúa Bà là người hiểu rừng, làm chủ rừng và bảo trợ những người mưu sinh nhờ rừng.
Việc nhắc đến tiếng hát của nhiều cộng đồng miền núi phản ánh nhận thức của người sáng tác về tính đa dạng văn hóa. Tuy nhiên, một số từ chỉ tộc người xuất hiện trong bản chép là cách gọi phổ biến của xã hội trước đây và có thể không còn phù hợp trong giao tiếp hiện đại. Khi giải nghĩa, nên sử dụng đúng tên tự gọi và tên chính thức của từng dân tộc, tránh lặp lại những cách gọi cũ với sắc thái thiếu tôn trọng.
Tư liệu về tín ngưỡng thờ Mẫu cho thấy sự hiện diện của các vị thánh và những yếu tố trang phục, âm nhạc có liên hệ với người Mường, Tày, Nùng, Dao được nhìn nhận như biểu hiện của giao lưu và gắn bó giữa các cộng đồng. Tuy vậy, không nên quy toàn bộ tín ngưỡng Sơn Trang cho riêng một dân tộc hoặc coi mọi biểu tượng miền núi đều phản ánh chính xác phong tục của người Mường đương đại.
Chúa truyền dạy tri thức và lập lại bình an
Theo lời văn, sau khi khuất phục những thế lực gây hại, Chúa truyền dạy cho người có căn cốt một số tri thức bí truyền. Bài văn sử dụng các khái niệm liên quan đến mo, phù, chú và việc đi rừng, vượt suối.
Trong xã hội truyền thống, thầy mo và người thực hành nghi lễ tại một số cộng đồng có thể đồng thời nắm giữ tri thức về phong tục, truyện kể, cây cỏ, chữa trị dân gian và nghi thức vòng đời. Khi đi vào bản văn thờ Mẫu, hình ảnh ấy được thiêng hóa thành tri thức do nữ thần trao truyền.
Không nên hiểu đoạn này là hướng dẫn thực hành bùa phép. Giá trị đáng chú ý hơn nằm ở ký ức về vai trò của người giữ tri thức trong cộng đồng và niềm tin rằng tri thức cần được sử dụng để bảo vệ con người, duy trì trật tự của bản mường.
Phần thỉnh Chúa xuất động
Gần cuối bản văn, không khí trở nên mạnh mẽ với tiếng kèn, tiếng trống, khói tỏa và đoàn tùy tùng. Chúa mặc thanh y, ngự trên bạch tượng và có các thị nữ, bộ tướng đi theo.
Đây là đoạn chuyển từ kể tích sang hình dung cuộc giáng ngự. Màu áo, linh vật, âm thanh và đội ngũ tùy tùng làm nổi bật vị thế của Chúa trong miền Sơn Trang.
“Thanh y” – áo xanh – gắn với màu cây lá và thường được sử dụng cho các vị thuộc Nhạc phủ hoặc miền rừng núi. Tuy nhiên, phục sức thực tế còn phụ thuộc truyền thống của từng đền, bản hội và người thực hành. Không nên coi một cách phối màu hoặc một kiểu khăn áo là tiêu chuẩn bắt buộc cho tất cả cộng đồng.
Bạch tượng, tức voi trắng, là biểu tượng của uy quyền, sức mạnh và khả năng vượt qua địa hình núi rừng. Trong văn chương tín ngưỡng, linh vật này còn giúp xây dựng hình ảnh một vị Chúa có đoàn nghi trượng trang nghiêm, khác với con người bình thường.
Phần chúc tụng và kết văn
Kết thúc bài là lời cầu mong gia sự bình an, con cháu thuận hòa, cuộc sống có phúc và người dự lễ được Chúa chứng cho lòng thành. Người hát đồng thời xin được tha thứ nếu trong lúc đàn hát có lời nào sai sót.
Lời xin “khai ân” ở cuối bản văn thể hiện thái độ khiêm nhường của người thực hành. Dù đã chuẩn bị lời ca và nghi thức, con người vẫn tự nhận mình có thể nhầm lẫn trước đấng thiêng.
Những câu cầu phúc nên được hiểu là nguyện vọng của người tham dự nghi lễ. Không thể dùng bản văn để cam kết rằng người đọc hoặc người làm lễ chắc chắn sẽ đạt được tài lộc, trường thọ hay mọi điều mong muốn. Giá trị của nghi thức chủ yếu nằm ở sự tưởng nhớ, niềm tin, sự gắn kết cộng đồng và trạng thái tinh thần mà người tham dự tìm thấy.
Các lớp biểu tượng nổi bật trong bản văn
Núi, hang và nguồn nước
Núi biểu thị sự cao lớn, bền vững và xa cách với thế giới đời thường. Hang động lại gợi hình ảnh một không gian kín, sâu, vừa giống nơi trú ẩn vừa giống cửa ngõ nối con người với miền thiêng.
Nguồn nước chảy bên núi làm cho cảnh Sơn Trang không khô cứng mà có sức sống. Nước nuôi dưỡng cây rừng, con người và vật nuôi; đồng thời tạo nên những tuyến giao thông tự nhiên giữa vùng cao với đồng bằng.
Sự kết hợp núi – hang – nước trong bản văn cho thấy Sơn Trang là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, không chỉ là một cung điện tưởng tượng của thần linh. Cảnh thiêng được kiến tạo từ chính những yếu tố quyết định đời sống của cộng đồng.
Cây cỏ và tri thức về rừng
Cây lá trong bản văn vừa là cảnh vật vừa mang khả năng thiêng. Điều này có thể liên hệ với kinh nghiệm lâu đời của cư dân miền núi trong việc sử dụng gỗ, măng, rau rừng và cây thuốc.
Trong thế giới tín ngưỡng, tri thức về cây cỏ được nhân cách hóa và quy về sự truyền dạy của Chúa. Cách kể ấy tôn vinh rừng như một kho nguồn sống, đồng thời nhắc con người phải biết giới hạn và quy tắc khi bước vào miền tự nhiên.
Ngày nay, giá trị sinh thái của hình tượng Sơn Trang có thể được tiếp cận theo hướng tôn trọng rừng, không săn bắt động vật hoang dã, không xâm hại cảnh quan và không biến việc dâng lễ thành hoạt động gây lãng phí hoặc ô nhiễm.
Người mẹ và nữ chủ miền sơn lâm
Chúa Bà mang hai phương diện: người mẹ thương dân và vị nữ chủ có quyền điều khiển bộ tướng, chế ngự nguy hại. Sự kết hợp này tạo nên một kiểu quyền lực nữ giới không dựa hoàn toàn vào chiến trận mà còn dựa vào khả năng nuôi dưỡng, chữa lành, giáo hóa và bảo vệ.
Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu đề cao hình tượng người mẹ và vai trò của phụ nữ trong đời sống gia đình, xã hội. Âm nhạc, múa và trang phục trong nghi lễ cũng là phương tiện để cộng đồng thể hiện quan niệm về giới, lịch sử và bản sắc văn hóa.
Tuy nhiên, không nên đơn giản hóa rằng mọi nữ thần trong điện Mẫu đều chỉ là một phiên bản của người mẹ gia đình. Chúa Bà Đệ Tam còn là người cai quản lãnh địa, người nắm tri thức và nhân vật có khả năng ra lệnh. Hình tượng của bà phản ánh cách dân gian trao cho nữ thần cả lòng nhân từ lẫn quyền lực công cộng.
Sự đan xen của nhiều hệ thống tư tưởng
Bản văn nhắc đến Hồng Bàng, Ngọc Hoàng, Lão Quân, tiên chúa, phù chú, bản mường và nghi lễ thờ Sơn Trang. Những yếu tố ấy không thuộc hoàn toàn về một hệ thống giáo lý duy nhất.
Đây là biểu hiện của quá trình dung hợp trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tín ngưỡng nữ thần bản địa, quan niệm Đạo giáo, một số thuật ngữ Phật giáo và ký ức về các cộng đồng miền núi cùng xuất hiện trong một bài văn.
Tư liệu giới thiệu di sản thờ Mẫu cũng nhấn mạnh tính hỗn dung và khả năng tiếp nhận nhiều nhân vật, biểu tượng văn hóa khác nhau. Chính sự cởi mở này giúp thực hành thờ Mẫu lan tỏa, nhưng đồng thời khiến danh hiệu và thần tích thường có nhiều dị bản.
Đặc điểm nghệ thuật của bản văn
Kết hợp câu bảy chữ và thể lục bát
Bản văn thường đan xen những cặp câu có nhịp gần với lối song thất cùng các câu sáu – tám. Cách kết hợp này tạo điều kiện để cung văn chuyển đổi giữa đoạn kể trang trọng, đoạn miêu tả cảnh vật và đoạn có tiết tấu nhanh.
Câu dài thường được dùng khi nêu thần hiệu, kể sự việc hoặc sử dụng nhiều từ Hán Việt. Câu lục bát mềm mại hơn, thích hợp với miêu tả hang động, tiếng hát, cảnh đi nương và lời cầu chúc.
Do bản văn tồn tại qua truyền khẩu, niêm luật không phải lúc nào cũng hoàn toàn đều đặn như một tác phẩm thơ viết để đọc. Khi đưa vào âm nhạc, cung văn có thể luyến, nhắc lại, thêm tiếng đệm hoặc kéo dài một âm để phù hợp với giai điệu.
Ngôn ngữ cổ kính và giàu âm thanh
Bài văn sử dụng nhiều từ Hán Việt như “phương danh”, “hách trạc”, “chấp nguyện”, “tùy tùng”, “thần oai”, “sắc phong” và “giáng lâm”. Lớp từ này tạo cảm giác trang nghiêm, tách lời hát khỏi ngôn ngữ giao tiếp thường ngày.
Bên cạnh đó là các từ gợi âm như tiếng cười, tiếng gió, tiếng hát líu lô, tiếng kèn và trống dồn. Chúng giúp người nghe không chỉ hình dung cảnh vật mà còn cảm nhận Sơn Trang như một không gian luôn vận động.
Sự đối lập giữa im lặng của núi sâu và âm thanh bất chợt là một thủ pháp nổi bật. Nó tái hiện cảm giác của người đi rừng khi không nhìn thấy nguồn phát ra tiếng động, đồng thời tạo điều kiện cho nghệ nhân thể hiện khả năng thay đổi giọng hát.
Chất liệu văn hóa miền núi qua cái nhìn của người sáng tác
Bản văn nhắc đến bản, mường, nương, rẫy, măng, củi, tiếng hát và nhạc cụ. Những yếu tố này tạo màu sắc sơn cước, nhưng không nên xem bài văn như một bản mô tả dân tộc học chính xác về đời sống của một cộng đồng cụ thể.
Một số hình ảnh có thể là sự quan sát thực tế, trong khi những hình ảnh khác đã được cách điệu theo quan niệm của người sáng tác và người thực hành ở vùng đồng bằng. Khi giới thiệu bài văn, cần tránh biến trang phục hay ngôn ngữ tượng trưng trên sân khấu thành khuôn mẫu về người Mường, Tày, Nùng hoặc Dao ngoài đời sống.
Giá trị của bản văn nằm ở dấu vết giao lưu văn hóa, chứ không phải ở khả năng đại diện đầy đủ cho bất kỳ dân tộc nào.
Vì sao bản văn có nhiều dị bản?
Quá trình truyền miệng và học nghề
Nhiều cung văn trước đây học bằng cách nghe thầy hát, ghi lại lời và luyện tập trong các dịp nghi lễ. Khi một từ cổ không còn thông dụng, người học có thể chép theo âm nghe được. Qua nhiều đời, một câu có thể xuất hiện dưới hai hoặc ba dạng khác nhau.
Mỗi nghệ nhân cũng có khả năng lựa chọn đoạn phù hợp với giọng hát, vốn bài bản và thời gian của buổi lễ. Bởi vậy, dị bản không nhất thiết là dấu hiệu của sự tùy tiện; nó còn thể hiện tính sống động của di sản truyền khẩu.
Thần tích địa phương được đưa vào lời hát
Một vị thánh có thể được thờ tại nhiều đền, mỗi nơi lưu giữ một câu chuyện riêng. Khi bản văn đi từ vùng này sang vùng khác, địa danh, công trạng hoặc danh hiệu địa phương có thể được bổ sung.
Ngược lại, nhiều nữ thần bản địa có chức năng tương đồng cũng có thể dần được quy tụ dưới một danh hiệu chung như Mẫu Thượng Ngàn, Chúa Sơn Trang hoặc Chúa Mường. Quá trình quy tụ này làm cho ranh giới giữa các thần tích trở nên linh hoạt.
Nỗ lực hệ thống hóa điện thần
Điện thần thờ Mẫu được cộng đồng sắp xếp theo các hàng Mẫu, Quan, Chầu, Chúa, Ông Hoàng, Cô và Cậu. Tuy nhiên, số lượng và thứ tự cụ thể không hoàn toàn giống nhau ở mọi đền phủ.
Khi đưa các nữ thần địa phương vào một hệ thống ba vị hoặc mười hai vị, người thực hành có thể gán thêm thứ bậc Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam. Vì thế, cùng một danh hiệu “Chúa Đệ Tam” đôi khi được dùng cho những hình tượng có thần tích khác nhau.
UNESCO ghi danh Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2016. Sự ghi danh dành cho toàn bộ thực hành cộng đồng, gồm nghi lễ, lễ hội, hát văn, tri thức và những người trao truyền; không phải sự xác nhận một bản thần tích hay một danh sách điện thần duy nhất là chính thống.
Cách giới thiệu và lưu giữ bản văn phù hợp
Ghi rõ đây là một dị bản đang lưu truyền
Khi đăng bản văn, nên ghi “bản chép tham khảo”, “dị bản sưu tầm” hoặc nêu rõ người cung cấp, người hát, địa điểm và thời gian ghi âm nếu có. Cách làm này giúp người đọc hiểu rằng bài văn thuộc một dòng trao truyền cụ thể.
Không nên đặt tiêu đề “bản chuẩn duy nhất” nếu chưa có đối chiếu giữa nhiều bản cổ và sự đồng thuận của cộng đồng nghệ nhân.
Không tự bổ sung sắc phong hoặc tiểu sử lịch sử
Câu văn nói về việc được các triều đại truy tặng không đồng nghĩa với việc hiện còn sắc phong có thể kiểm chứng. Muốn khẳng định Chúa từng được một triều vua ban sắc cần tìm được bản sắc, bản sao, mục kê di tích hoặc tư liệu của cơ quan chuyên môn.
Tương tự, những mốc như “thời Hồng Bàng” hoặc việc Chúa là con của một đời Vua Hùng nên được giới thiệu là truyền thuyết, không viết như niên đại lịch sử đã được xác nhận.
Tôn trọng cộng đồng và tên gọi các dân tộc
Khi giữ nguyên một từ cổ trong bản văn, phần giải nghĩa cần cho biết đó là ngôn ngữ của văn bản xưa. Trong lời biên soạn mới, nên dùng tên gọi hiện hành của các dân tộc và tránh những cách gọi có thể gây tổn thương.
Cũng không nên cho rằng người Mường hiện nay đều thờ Chúa Bà Đệ Tam theo cùng một nghi thức. Bản văn chủ yếu được nhận biết trong môi trường thờ Mẫu đã tiếp nhận hình tượng bản mường vào điện Sơn Trang.
Không cổ súy việc dùng nghi lễ để thay thế giải pháp thực tế
Bản văn có nhiều lời cầu bình an, sức khỏe và gia đạo. Người thực hành có thể tìm thấy sự an ủi tinh thần qua việc dâng hương, nghe hát văn hoặc tham gia sinh hoạt cộng đồng.
Dù vậy, nghi lễ không thay thế việc khám chữa bệnh, tư vấn pháp lý, lao động, học tập hoặc các quyết định có căn cứ trong đời sống. Không nên lợi dụng danh nghĩa Chúa Bà để dọa nạt, bán vật phẩm, ép mở phủ hoặc hứa hẹn đổi vận.
Cơ quan quản lý di sản cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ, truyền dạy và phát huy giá trị di sản song song với việc ngăn ngừa hủ tục và hành vi lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi.
Giá trị văn hóa của bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang
Lưu giữ hình ảnh thế giới sơn lâm
Qua lời hát, người đọc có thể hình dung cách các thế hệ trước cảm nhận núi rừng: đẹp đẽ nhưng khó lường, giàu sản vật nhưng cũng ẩn chứa hiểm nguy. Hang đá, khe nước, cây rừng, nương rẫy và tiếng hát bản mường tạo thành một bức tranh nhiều lớp.
Bản văn vì thế có giá trị như một tư liệu văn học dân gian về trí tưởng tượng đối với miền núi. Nó không thay thế tư liệu địa lý hoặc dân tộc học, nhưng giúp nhận biết tình cảm, nỗi sợ và ước vọng mà con người gửi vào cảnh quan.
Phản ánh sự giao lưu giữa các cộng đồng
Sự xuất hiện của yếu tố bản mường trong một nghi lễ được thực hành rộng rãi ở đồng bằng cho thấy văn hóa không tồn tại trong những ranh giới khép kín. Người đi buôn, người hành hương, nghệ nhân, cư dân di chuyển và các trung tâm thờ tự đã góp phần đưa truyện kể từ vùng này sang vùng khác.
Trong quá trình ấy, hình tượng nữ thần miền núi được tiếp nhận vào điện thờ Mẫu của người Việt, còn hát văn lại vay mượn nhịp điệu, phục sức và hình ảnh sơn cước để xây dựng các giá thuộc Nhạc phủ. Đó là dấu vết của tiếp xúc văn hóa, dù mỗi cộng đồng vẫn có bản sắc và hệ thống tín ngưỡng riêng.
Tôn vinh người phụ nữ trong vai trò bảo hộ cộng đồng
Chúa Bà không chỉ đẹp và nhân từ. Bà có quyền tuyển chọn tùy tùng, điều khiển lực lượng, chế ngự hiểm nguy và truyền dạy tri thức. Hình tượng này mở rộng vai trò của nữ giới từ phạm vi gia đình sang việc bảo vệ cả một vùng cư dân.
Ở góc nhìn văn hóa, đây là một trong những nét đặc sắc của tín ngưỡng nữ thần Việt Nam: người phụ nữ có thể được hình dung như người mẹ, người thầy, người chữa lành và người đứng đầu một miền thiêng.
Góp phần bảo tồn nghệ thuật chầu văn
Một bản văn chỉ thực sự sống động khi được đặt trong giọng hát, nhịp phách và kiến thức của nghệ nhân. Việc sưu tầm lời văn cần đi cùng ghi âm, ghi hình, nghiên cứu làn điệu và tìm hiểu hoàn cảnh trình diễn.
Bảo tồn không có nghĩa đóng băng bài văn thành một phiên bản bất biến. Cần tôn trọng quyền sáng tạo của cộng đồng, đồng thời ghi lại rõ những thay đổi để thế hệ sau nhận biết đâu là lớp lời cổ, đâu là phần bổ sung mới.
Một số câu hỏi thường gặp
Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang có phải nhân vật lịch sử không?
Hiện chưa có đủ tư liệu để xác nhận toàn bộ hành trạng trong bản văn là tiểu sử của một nhân vật lịch sử cụ thể. Chúa nên được giới thiệu là hình tượng tín ngưỡng được xây dựng qua thần tích, truyền thuyết và diễn xướng của cộng đồng.
Diệu Nghĩa Thiền Sư có phải Quế Hoa Công chúa không?
Một dòng truyền thừa đồng nhất hai danh hiệu này và đặt Chúa ở ngôi Đệ Tam trong Tam tòa Sơn Trang. Tuy nhiên, thần tích Quế Hoa Công chúa tại từng địa phương có thể khác với câu chuyện trong bản văn. Không nên khẳng định sự đồng nhất này như một kết luận lịch sử đã được chứng minh.
Chúa Đệ Tam Sơn Trang và Chúa Lâm Thao có phải một vị?
Không nhất thiết. Hai tên gọi thuộc hai cách sắp xếp Tam Vị Chúa Mường khác nhau. Một số cộng đồng có thể liên hệ hoặc phối hợp hai hình tượng, nhưng khi biên soạn nên phân biệt theo tên bản văn và thần tích của từng nơi.
Có thể coi bản đang lưu truyền là nguyên tác không?
Không nên. Chưa xác định được tác giả, niên đại và bản thảo gốc. Bản hiện nay phù hợp hơn khi được gọi là một dị bản hoặc bản chép đang được cộng đồng sử dụng.
Các chi tiết bùa chú trong bài có phải hướng dẫn thực hành không?
Không. Đó là thành phần của thế giới biểu tượng và thần tích. Bài văn không nên được sử dụng như tài liệu hướng dẫn bùa phép, chữa bệnh hoặc can thiệp vào số phận con người.
UNESCO có công nhận riêng bản văn này không?
Không. UNESCO ghi danh Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt như một di sản tổng thể vào năm 2016. Việc ghi danh không xác nhận riêng danh tính Chúa Bà Đệ Tam, nội dung bản văn hay một dị bản cụ thể.
Kết luận
Bản văn Chúa Bà Đệ Tam Sơn Trang Tổ Mường là một tác phẩm diễn xướng tín ngưỡng giàu hình ảnh núi rừng. Qua lời thỉnh, cảnh hang động, đời sống nương rẫy và hình tượng nữ thần chế ngự hiểm nguy, bài văn thể hiện ước vọng về sự bình an, trật tự và chỗ dựa tinh thần của con người trước thiên nhiên rộng lớn.
Điều cần lưu ý là danh tính Chúa Bà Đệ Tam chưa được giải thích thống nhất. Diệu Nghĩa Thiền Sư, Quế Hoa Công chúa, Chúa Đệ Tam Lâm Thao và một số hình tượng địa phương có thể được liên hệ trong thực hành, nhưng không nên tùy tiện hợp nhất thành một tiểu sử duy nhất. Những câu kể về thời Hồng Bàng, sắc phong và thần pháp cần được trình bày đúng bản chất là thần tích hoặc ngôn ngữ văn chương tín ngưỡng.
Giá trị lâu dài của bản văn không nằm ở những lời hứa về quyền phép, mà ở khả năng lưu giữ ký ức văn hóa, âm nhạc chầu văn, sự tôn kính đối với người mẹ và mối quan hệ giữa con người với rừng núi. Việc nghiên cứu, ghi chép và trao truyền bài văn bằng thái độ cẩn trọng sẽ góp phần gìn giữ một lớp di sản tinh thần đa dạng của cộng đồng thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.