Bản văn Ông Hoàng Báo Đông Cuông là những lời ca dùng để thỉnh mời, ca ngợi và kể lại sự tích của vị thần nam được thờ cùng Mẫu Đông Cuông. Qua hình thức văn vần giàu nhịp điệu, bản văn tái hiện hình tượng Ông Hoàng Báo vừa là người con của Mẫu, vừa mang dáng dấp một vị quan võ có nhiệm vụ bảo hộ bản làng, trấn giữ miền biên viễn và giúp dân vượt qua tai biến.
Không chỉ kể chuyện về một nhân vật thiêng, các dị bản còn lưu giữ nhiều lớp ký ức gắn với Đền Đông Cuông, Ghềnh Ngai, ngày Mão đầu tháng Giêng, nghi thức rước Mẫu và Ông Hoàng Báo, cùng quan niệm truyền thống về đạo hiếu, nghĩa gia đình và sự gắn bó giữa con người với quê hương. Một số câu văn còn nhắc tới Mậu A, Trái Hút, Mường Khà và vùng sông núi thượng lưu sông Hồng, tạo nên không gian địa phương khá rõ nét.
Tuy nhiên, bản văn tín ngưỡng không phải là một bản tiểu sử lịch sử theo nghĩa hiện đại. Giữa các dị bản có nhiều khác biệt về nguồn gốc, gia thế, diễn biến cuộc đời và cách Ông Hoàng Báo được phong thần. Vì vậy, nội dung trong bản văn cần được tiếp cận như truyền tích, ký ức cộng đồng và ngôn ngữ nghi lễ, không nên mặc nhiên coi tất cả chi tiết là dữ kiện lịch sử đã được kiểm chứng.
Bản văn Ông Hoàng Báo là gì?
Bản văn Ông Hoàng Báo thuộc mạch văn chầu, văn thỉnh và văn ca ngợi các vị thần trong thực hành tín ngưỡng dân gian. Tùy từng bản đền, cung văn hoặc cộng đồng thực hành, lời văn có thể được hát trong những dịp lễ, dùng khi thỉnh mời vị thần hoặc được đọc như một hình thức kể lại sự tích.

Trong các bản văn được lưu truyền, Ông Hoàng Báo thường xuất hiện với những danh xưng như:
- Ông Báo Hoàng.
- Ông Hoàng Báo.
- Quan Hoàng Báo.
- Đức Hoàng.
- Vua Báo.
- Vua Con.
Tên gọi “vua Con” được đặt trong mối quan hệ với “vua Mẹ”, tức Mẫu Đông Cuông. Cách tôn xưng này không nhất thiết có nghĩa Ông Hoàng Báo từng là một vị vua theo lịch sử chính trị. Trong ngôn ngữ tín ngưỡng dân gian, những từ như vua, quan, chúa hoặc hoàng còn biểu thị sự tôn kính và địa vị thiêng của nhân vật được thờ phụng.
Các bản văn thường không có một tác giả duy nhất được xác định rõ ràng. Lời văn được truyền qua nhiều thế hệ, qua trí nhớ của cung văn, người thủ nhang, người thực hành nghi lễ và cư dân địa phương. Trong quá trình đó, một số câu chữ có thể thay đổi, địa danh có thể được bổ sung, còn các lớp truyền thuyết khác nhau có thể được kết hợp vào cùng một bài.
Do vậy, không nên coi một bản đang được lưu hành là bản duy nhất hoặc bản chuẩn tuyệt đối. Việc tồn tại nhiều dị bản chính là một đặc điểm của văn học truyền khẩu và văn chương nghi lễ dân gian.
Hai dị bản Ông Hoàng Báo Đông Cuông
Hai bản văn dưới đây thể hiện hai cách kể khá khác nhau về Ông Hoàng Báo. Bản thứ nhất nhấn mạnh nguồn gốc thần thánh, khí phách võ tướng, đạo hiếu và quyền năng bảo hộ. Bản thứ hai tập trung nhiều hơn vào quan hệ gia đình, cuộc chia lìa giữa cha mẹ và người con, sự hình thành đền miếu cùng không khí lễ hội Mão đầu.
Phần lời văn được chép lại theo nội dung lưu truyền, chỉ chuẩn hóa một số chữ hoa, dấu câu và lỗi chính tả rõ ràng. Những từ ngữ chưa đủ căn cứ để xác định cách viết khác được giữ theo dị bản.
Bản văn Ông Hoàng Báo số 1
Đệ tử con khấu đầu vọng bái
Trên tòa vàng Phật Thánh chứng tri
Ông Báo Hoàng ngự cảnh lưu ly
Mậu A, Trái Hút hách danh độ ngườiTrống ba hồi nghe lời triệu thỉnh
Ông Báo Hoàng nhĩ thính nhỡn khai
Thần thông dũng mãnh tốc lai
Hào quang chớp giật các nơi sấm rềnSuối cam tuyền rừng xanh núi đỏ
Ngàn tiêu dao ngọn cỏ nương mây
Bao nhiêu tà quỷ khi nay
Vẳng nghe tiếng thét hồn bay phách dờiNhớ thuở thời khai thiên lập địa
Đất Đông Cuông giáng hiện thánh nhân
Cành hồng phơi phới gió xuân
Điềm lành quý tử giáng sinh hạ trầnTrấn Mường Khà cha là tù trưởng
Đấng anh hùng trấn giữ biên cương
Giao phong trận thế khôn lường
Phụ thân tạ thế lên đường mây xanhNhớ lời cha ấm tình phụ tử
Đạo hiếu trung gìn giữ không sai
Đức Ông ngự Miếu Ghềnh Ngai
Hoàng cùng Thánh Mẫu quản cai Mường KhàChiếu thiên cung phong là thượng đẳng
Đạo sắc phong truy tặng đề tên
Muôn dân ghi nhớ lập đền
Mão đầu mở hội tháng Giêng nức lòngRước kiệu Mẫu cùng Ông Hoàng Báo
Sang Ghềnh Ngai thăm viếng Đức Ông
Chữ rằng sắc sắc không không
Đức Hoàng hiển thánh uy phong độ ngườiKhi thanh nhàn dạo chơi mọi chốn
Lúc sai hành thu tróc quỷ ma
Có phen lại xuống Diêm La
Mở cờ dẹp nước khảo tà thu tinhLên thiên đình cưỡi mây nương gió
Xuống phàm trần ai có dám đang
Tâm thành thiết lập đàn tràng
Kêu cầu tất ứng vẻ vang hay làTrước điện tòa con thời phụng sự
Sau tu hành lấy chữ thiện tâm
Ơn nhờ Thánh giáng lưu ân
Đức Hoàng giáng phúc thiên xuân thọ trường.
Bản văn Ông Hoàng Báo số 2
Nước thịnh trị dâng câu thiên bảo
Đất Đông Cuông Ông Hoàng Báo hiển linh
Cõi đời không có tử sinh
Thì đâu có đấng dân lành hiếu trungÔng Hoàng Báo vốn dòng hoàng tộc
Mồ côi cha từ lúc còn thơ
Tết xuân theo mẹ về nhà
Khấu đầu kính chúc ông bà ngoại thânMừng gia tộc thôn dân vui Tết
Tỏ tấc lòng tha thiết ngoại hương
Ai hay cực nhục phũ phàng
Thực lòng mẹ cũng dành đường cùng conXót luân lý trông mòn đôi mắt
Chân đã chồn đường đất còn xa
Lênh đênh góc núi ven hà
Ra đi tháng Mão mồng ba giờ DầnHoa nở Dần Mão tuần hoa tạ
Hẹn ngày về từ giã ngày đi
Tử sinh cùng hẹn cũng kỳ
Khách tiên nay lại trở về cõi tiênHoàng theo mẹ cùng lên cõi thọ
Đài xuân còn ghi sổ tiên cung
Tam thiên Đế Thích ban phong
Sơn tinh Ông Báo nối dòng Lê giaKể từ buổi sơn hà cách biệt
Dấu tiên tung ai biết tăm hơi
Bỗng đâu chuyển đất động trời
Ba năm hồng thủy cứu người thác oanNạn giặc giã nhà tan cướp của
Dịch lan tràn, nắng nỏ ruộng khô
Trẻ già dân sự toan lo
Nhớ lời mẹ dặn năm xưa rành rànhSửa lễ vật sang ghềnh lập miếu
Ứng chiêm bao mộng triệu hiển nhiên
Đông Cuông dựng miếu lập đền
Mão đầu trảy hội rước Tiên sang ghềnhRước Ông Báo tiến trình nghi lễ
Giết trâu hồng kính để Ghềnh Ngai
Bãi sông gái sắc trai tài
Mục đồng đấu vật cho người giải khuâyMừng hội Mão vui say phỉ chí
Đón xuân về cha mẹ mừng con
Sinh không được chữ vuông tròn
Tử sao cách biệt nước non bấy chầyCơ tạo hóa đặt bày lắm nỗi
Ngăn một dòng bể đợi bến mong
Mới hay hồng diệp xích thằng
Trời kia đã buộc ai giằng cho raGương hóa tục cho ta soi mãi
Chữ hiếu trinh sá ngại trời xưa
Gương còn soi mãi đến giờ
Bõ câu phép nước phải thua lệ làngƠn Thánh Mẫu mở đường chỉ lối
Quốc tự do sáng rợi bốn phương
Mão đầu trảy hội Đông Cuông
Nguyện xin bốn chữ thọ khang yên lànhThỉnh Hoàng trắc giáng điện đình
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.
Bố cục của bản văn Ông Hoàng Báo số 1
Bản văn số 1 có cấu trúc gần với một bài thỉnh kết hợp kể sự tích và ca ngợi quyền năng. Có thể nhận ra bốn phần tương đối rõ: mở lời triệu thỉnh, kể nguồn gốc, mô tả công trạng và kết thúc bằng lời cầu nguyện.
Phần triệu thỉnh Ông Hoàng Báo
Bản văn mở đầu bằng lời khấu bái:
“Đệ tử con khấu đầu vọng bái
Trên tòa vàng Phật Thánh chứng tri.”
Người hành lễ tự đặt mình trong tư thế khiêm nhường, hướng về điện thần và xin các đấng thiêng chứng giám. Đây là lối mở thường gặp trong văn chương nghi lễ, nhằm xác lập quan hệ giữa người thỉnh và đối tượng được thỉnh.
Sau lời bái vọng là tiếng trống triệu thỉnh:
“Trống ba hồi nghe lời triệu thỉnh
Ông Báo Hoàng nhĩ thính nhỡn khai.”
“Nhĩ thính, nhỡn khai” có thể hiểu là tai nghe, mắt mở, một cách nói mang tính nghi lễ để thỉnh vị thần nhận biết lời cầu và giáng về chứng lễ. Không nên hiểu câu này theo nghĩa vị thần vốn không nghe hoặc không thấy, mà đây là lối diễn đạt ước lệ trong văn thỉnh.
Hình ảnh “hào quang chớp giật”, “các nơi sấm rền” tạo nên không khí linh thiêng, mạnh mẽ. Ông Hoàng Báo được hình dung không xuất hiện âm thầm mà giáng về cùng những dấu hiệu của sức mạnh trời đất.
Không gian sông núi vùng Đông Cuông
Những câu:
“Suối cam tuyền rừng xanh núi đỏ
Ngàn tiêu dao ngọn cỏ nương mây”
gợi một không gian miền núi với rừng cây, suối nước, mây ngàn và những dãy núi bao quanh. Đây là môi trường văn hóa tự nhiên gắn với tín ngưỡng Mẫu Thượng Ngàn và với cộng đồng cư dân vùng thượng lưu sông Hồng.
Trong bản văn, thiên nhiên không chỉ là phong cảnh. Núi rừng còn là nơi thần linh ngự trị, nơi các vị thần tuần du và bảo hộ con người. Hình ảnh “ngọn cỏ nương mây” khiến cảnh vật trở nên vừa hùng vĩ vừa có nét huyền ảo.
Hai địa danh Mậu A và Trái Hút cũng được nhắc ngay từ đầu. Đây là những địa danh quen thuộc của vùng Văn Yên trước đây, cho thấy bản văn mang dấu ấn địa phương khá rõ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của địa danh trong lời hát không tự động chứng minh Ông Hoàng Báo từng hoạt động lịch sử ở tất cả những nơi ấy. Trong văn chầu, địa danh còn có tác dụng xác định vùng ảnh hưởng thiêng và tạo cảm giác gần gũi với người nghe.
Sự giáng sinh của Ông Hoàng Báo
Bản văn kể:
“Đất Đông Cuông giáng hiện thánh nhân
Cành hồng phơi phới gió xuân
Điềm lành quý tử giáng sinh hạ trần.”
Hình ảnh cành hồng, gió xuân và điềm lành thuộc lối văn ca ngợi sự ra đời của một nhân vật khác thường. Ông Hoàng Báo được gọi là “quý tử”, nghĩa là người con quý được trời đất báo hiệu bằng những dấu hiệu tốt lành.
Đây là mô típ thường gặp trong thần tích và truyền thuyết về các nhân vật được thiêng hóa. Khi một người được cộng đồng tôn làm thần, câu chuyện về sự ra đời thường được nâng lên khỏi đời sống thông thường bằng điềm lạ, ánh sáng, hương thơm, mây lành hoặc sự chuyển động của thiên nhiên.
Những mô típ ấy thể hiện lòng tôn kính của cộng đồng đối với nhân vật, chứ không phải những hiện tượng đã được lịch sử hoặc khoa học xác nhận.
Người cha là tù trưởng trấn giữ biên cương
Một lớp truyền tích quan trọng trong bản văn số 1 là hình tượng người cha:
“Trấn Mường Khà cha là tù trưởng
Đấng anh hùng trấn giữ biên cương.”
Người cha được mô tả là một tù trưởng có trách nhiệm bảo vệ miền biên viễn. Đây là chi tiết phù hợp với ký ức cộng đồng vùng núi về các thủ lĩnh bản địa, những người từng tổ chức dân binh, bảo vệ bản mường và kiểm soát những tuyến đường sông, đường núi.
Tên Mường Khà xuất hiện trong bản văn như một không gian thuộc quyền quản cai của gia đình thiêng. Tuy nhiên, hiện chưa nên căn cứ riêng vào lời văn để xác định chính xác phạm vi địa lý hoặc đơn vị hành chính lịch sử của Mường Khà.
Trong quá trình truyền khẩu, tên gọi một bản, một mường hoặc một vùng cư trú có thể thay đổi về âm đọc và cách ghi. Mường Khà vì thế trước hết nên được hiểu là địa danh trong mạch truyền tích của bản văn.
Người cha mất sau những cuộc giao tranh và được thờ tại Miếu Đức Ông ở Ghềnh Ngai. Ông Hoàng Báo cùng Thánh Mẫu tiếp tục quản cai vùng đất. Mạch kể này xây dựng Ông Hoàng Báo như người tiếp nối sự nghiệp của cha, đồng thời luôn ở bên phụng dưỡng và hỗ trợ mẹ.
Đạo hiếu và tình phụ tử
Một trong những câu quan trọng của bản văn số 1 là:
“Nhớ lời cha ấm tình phụ tử
Đạo hiếu trung gìn giữ không sai.”
Hai chữ “hiếu trung” đặt Ông Hoàng Báo trong hệ thống đạo lý truyền thống. Ông không chỉ có tài trấn giữ mà còn là người con nhớ lời cha, kính mẹ và tiếp nối trách nhiệm của gia đình.
Trong văn hóa dân gian, sự thiêng hóa một nhân vật thường đi cùng việc tôn vinh phẩm chất đạo đức. Người được thờ không chỉ vì có quyền năng mà còn vì từng sống đúng với những giá trị được cộng đồng đề cao như trung thành, hiếu nghĩa, dũng cảm và biết bảo vệ dân lành.
Hình tượng Ông Hoàng Báo vì thế mang ý nghĩa giáo dục. Qua lời văn, người nghe được nhắc nhở về sự biết ơn cha mẹ, việc gìn giữ nề nếp gia đình và trách nhiệm tiếp nối công việc của thế hệ trước.
Lễ hội Mão đầu và cuộc rước sang Ghềnh Ngai
Bản văn viết:
“Mão đầu mở hội tháng Giêng nức lòng
Rước kiệu Mẫu cùng Ông Hoàng Báo
Sang Ghềnh Ngai thăm viếng Đức Ông.”
“Mão đầu” thường được hiểu là ngày Mão đầu tiên của tháng Giêng âm lịch, một thời điểm quan trọng trong lễ hội truyền thống Đền Đông Cuông. Bản văn gắn sự hiện diện của Ông Hoàng Báo với cuộc rước Mẫu sang khu vực Ghềnh Ngai, nơi có Miếu Đức Ông.
Trong không gian nghi lễ, Mẫu, Đức Ông và Ông Hoàng Báo tạo thành một gia đình thiêng. Mẫu được rước sang thăm Đức Ông, còn Ông Hoàng Báo xuất hiện với tư cách người con đi cùng mẹ.
Cuộc rước vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng, vừa tái hiện sự đoàn tụ gia đình. Nó làm cho dòng sông giữa Đền Đông Cuông và Ghềnh Ngai trở thành một phần của câu chuyện. Sông không chỉ chia cách hai bờ mà còn là con đường nối lại những thành viên trong gia đình thiêng vào dịp hội.
Quyền năng trừ tà và bảo hộ
Nửa sau của bản văn số 1 dành nhiều câu mô tả uy lực của Ông Hoàng Báo:
“Khi thanh nhàn dạo chơi mọi chốn
Lúc sai hành thu tróc quỷ ma.”
Những hình ảnh như trừ tà, thu tinh, xuống Diêm La, lên thiên đình hoặc cưỡi mây nương gió thuộc ngôn ngữ biểu tượng của văn chầu. Chúng thể hiện niềm tin của người xưa rằng vị thần có khả năng di chuyển giữa các cõi, bảo vệ trật tự và trấn áp những lực lượng gây hại.
Không nên diễn giải những câu này thành lời khẳng định rằng Ông Hoàng Báo có thể chữa bệnh, thay đổi vận mệnh hoặc giải quyết mọi vấn đề trong đời sống. Trong bối cảnh văn hóa, đó là cách cộng đồng thể hiện mong muốn được bảo hộ trước tai ương, bệnh dịch, thiên tai và những điều chưa thể giải thích.
Đằng sau hình ảnh trừ tà là khát vọng về một cuộc sống có trật tự, nơi người lương thiện được bảo vệ và những hành vi gây hại bị ngăn chặn.
Lời kết hướng về thiện tâm
Bản văn số 1 kết thúc bằng lời:
“Sau tu hành lấy chữ thiện tâm.”
Đây là điểm đáng chú ý bởi người hành lễ không chỉ cầu xin vị thần ban phúc mà còn tự nhắc mình phải giữ thiện tâm. Như vậy, quan hệ giữa người và thần không hoàn toàn là sự trao đổi lễ vật để nhận lợi ích.
Lòng thành phải đi cùng việc tu sửa hành vi, sống đúng đạo lý và biết làm điều thiện. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp đối với tín ngưỡng trong đời sống hiện nay: việc dâng hương nên hướng con người đến sự tỉnh thức, trách nhiệm và lòng nhân ái, không nên trở thành hoạt động cầu lợi bằng mọi giá.
Bố cục của bản văn Ông Hoàng Báo số 2
So với bản thứ nhất, bản văn số 2 có màu sắc tự sự rõ hơn. Tác phẩm kể một câu chuyện gia đình với những cuộc chia lìa, nỗi đau, sự qua đời, việc lập đền miếu và cuộc đoàn tụ trong lễ hội.
Lời mở đầu đề cao hiếu trung
Bản văn mở bằng câu:
“Đất Đông Cuông Ông Hoàng Báo hiển linh
Cõi đời không có tử sinh
Thì đâu có đấng dân lành hiếu trung.”
Sinh và tử được đặt như hai phần tất yếu của đời người. Chính trong giới hạn của kiếp người, những phẩm chất như trung thành, hiếu nghĩa và lòng nhân ái mới được bộc lộ.
Cách mở đầu này báo trước trọng tâm của bản văn số 2 không nằm hoàn toàn ở quyền năng thần thánh. Câu chuyện muốn tôn vinh một con người có đạo hiếu, sau khi qua đời được cộng đồng tưởng nhớ và thờ phụng.
Một dị bản khác về gia thế
Bản văn số 2 kể:
“Ông Hoàng Báo vốn dòng hoàng tộc
Mồ côi cha từ lúc còn thơ.”
Chi tiết “dòng hoàng tộc” khác với bản văn số 1, trong đó người cha được giới thiệu là tù trưởng trấn giữ Mường Khà. Về sau, bản số 2 lại có câu “Sơn tinh Ông Báo nối dòng Lê gia”, đưa thêm yếu tố dòng họ Lê vào sự tích.
Sự khác biệt này cho thấy bản văn đã tiếp nhận nhiều lớp truyền kể. Có thể mỗi cộng đồng hoặc người biên soạn muốn kết nối Ông Hoàng Báo với một dòng họ, một triều đại hay một truyền thống lịch sử khác nhau.
Khi chưa có tư liệu đủ chắc chắn, không nên dùng riêng những câu này để kết luận Ông Hoàng Báo là thành viên của hoàng tộc nhà Lê. Cụm từ “dòng hoàng tộc” còn có thể là một lối tôn xưng, nhằm nâng cao phẩm vị của nhân vật trong văn chương nghi lễ.
Chuyến về quê ngoại và bi kịch gia đình
Bản văn kể Ông Hoàng Báo theo mẹ về nhà ngoại vào dịp Tết, kính chúc ông bà và gặp gỡ gia tộc. Đây là những chi tiết rất gần với phong tục gia đình của người Việt và nhiều cộng đồng cư dân miền núi.
Việc con cháu về thăm ông bà trong ngày Tết thể hiện mối liên hệ với quê ngoại, với họ hàng và tổ tiên. Ông Hoàng Báo vì thế không chỉ hiện lên trong không gian đền phủ mà còn mang dáng dấp một người con, người cháu trong đời sống gia đình.
Sau không khí sum họp, lời văn chuyển sang cảm giác đau buồn:
“Xót luân lý trông mòn đôi mắt
Chân đã chồn đường đất còn xa
Lênh đênh góc núi ven hà.”
Những câu này gợi hành trình vất vả qua núi, qua sông. “Ven hà” có thể hiểu là ven sông, phù hợp với cảnh quan Đông Cuông và vùng thượng lưu sông Hồng.
Diễn biến tiếp theo không được kể thật rõ ràng. Bản văn nói đến việc “ra đi”, “hoa tạ”, “tử sinh cùng hẹn” và mẹ con cùng trở về cõi tiên. Đây có thể là cách nói ước lệ về sự qua đời hoặc hóa của hai nhân vật.
Sự thiếu rõ ràng không phải điều hiếm gặp ở văn bản truyền khẩu. Một số câu có thể đã mất, bị đảo vị trí hoặc biến đổi qua quá trình ghi nhớ và sao chép. Vì vậy, rất khó dựa vào bản văn hiện nay để tái dựng một trình tự sự kiện hoàn toàn chính xác.
Việc phong thần và trở về cõi tiên
Bản văn có câu:
“Hoàng theo mẹ cùng lên cõi thọ
Đài xuân còn ghi sổ tiên cung
Tam thiên Đế Thích ban phong
Sơn tinh Ông Báo nối dòng Lê gia.”
Đây là một lớp ngôn ngữ kết hợp nhiều yếu tố tín ngưỡng. “Cõi thọ”, “tiên cung”, “Đế Thích” và “Sơn tinh” không hoàn toàn thuộc một hệ thống thần học duy nhất, mà phản ánh sự giao thoa giữa quan niệm dân gian, ảnh hưởng Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng thần núi.
Trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, việc nhiều lớp biểu tượng cùng xuất hiện trong một bài văn không phải hiện tượng bất thường. Cộng đồng có thể sử dụng những danh hiệu khác nhau để diễn tả ý tưởng chung rằng người có công, có đức sau khi mất được về cõi thiêng và tiếp tục phù trợ dân làng.
Tuy nhiên, những câu như “Đế Thích ban phong” không đồng nghĩa đã từng có một văn bản lịch sử hoặc sắc phong của triều đình ghi đúng như vậy. Đây trước hết là hình thức phong thần trong ngôn ngữ văn chương.
Tai biến và nhu cầu lập đền
Sau khi mẹ con về cõi tiên, bản văn kể về hàng loạt tai biến:
“Bỗng đâu chuyển đất động trời
Ba năm hồng thủy cứu người thác oan
Nạn giặc giã nhà tan cướp của
Dịch lan tràn, nắng nỏ ruộng khô.”
Lũ lụt, giặc giã, dịch bệnh và hạn hán là những hiểm họa quen thuộc trong ký ức của cộng đồng nông nghiệp. Chúng đe dọa trực tiếp đến mùa màng, sức khỏe và sự tồn tại của bản làng.
Khi chưa có khả năng giải thích đầy đủ nguyên nhân của thiên tai và dịch bệnh, người xưa thường tìm đến thần linh, tổ tiên hoặc những nhân vật được cho là có công bảo hộ vùng đất. Việc lập miếu vì thế vừa là hành động tưởng nhớ, vừa là cách cộng đồng tìm kiếm sự ổn định về tinh thần.
Bản văn kể dân làng nhớ lời Mẫu, sửa lễ vật, sang ghềnh lập miếu và nhận được những dấu hiệu trong giấc mơ. Chiêm bao trong truyền tích dân gian thường đóng vai trò như cầu nối giữa người sống với cõi thiêng, giúp giải thích vì sao một ngôi miếu được dựng lên hoặc vì sao một nhân vật được thờ tại địa điểm cụ thể.
Những câu chuyện báo mộng cần được hiểu là truyền tích, không phải bằng chứng khoa học về sự tồn tại của hiện tượng siêu nhiên.
Lễ hội Mão đầu trong bản văn số 2
Không khí lễ hội được mô tả khá sinh động:
“Đông Cuông dựng miếu lập đền
Mão đầu trảy hội rước Tiên sang ghềnh.”
Từ “trảy hội” diễn tả cảnh người dân từ nhiều nơi cùng tìm về dự lễ. Cuộc rước sang ghềnh tiếp tục là trung tâm của nghi thức, cho thấy mối quan hệ giữa Đền Đông Cuông và Ghềnh Ngai đã ăn sâu trong ký ức tín ngưỡng.
Bản văn còn nhắc:
“Bãi sông gái sắc trai tài
Mục đồng đấu vật cho người giải khuây.”
Qua hai câu này, lễ hội không chỉ có phần lễ trang nghiêm mà còn có phần hội vui vẻ. Bãi sông trở thành không gian gặp gỡ cộng đồng, nơi trai gái, trẻ nhỏ, người cao tuổi cùng tham gia hoặc chứng kiến các trò vui.
Đấu vật là trò hội phổ biến tại nhiều địa phương, biểu thị sức khỏe, tinh thần thượng võ và sự vui mừng trong những ngày đầu xuân. Sự xuất hiện của mục đồng làm cho bức tranh lễ hội mang nét đời thường, gần gũi với cư dân nông nghiệp.
Chi tiết “giết trâu hồng”
Bản văn số 2 có câu:
“Giết trâu hồng kính để Ghềnh Ngai.”
“Trâu hồng” có thể là cách gọi mang tính nghi lễ hoặc ước lệ đối với vật hiến tế. Ở một số cộng đồng, con trâu là lễ vật quan trọng vì gắn với sản xuất nông nghiệp, sức mạnh và tài sản của bản làng.
Tuy nhiên, không nên từ một câu văn mà kết luận lễ hội hiện nay năm nào cũng thực hiện nghi thức giống hệt như lời kể. Nghi thức tế lễ có thể thay đổi qua thời gian do điều kiện kinh tế, quy định quản lý, quan niệm bảo vệ động vật và cách tổ chức của cộng đồng.
Chi tiết này nên được xem là dấu vết của một lớp thực hành nghi lễ trong ký ức hoặc trong cách kể của người biên soạn bản văn. Khi giới thiệu lịch lễ hội từng năm, cần căn cứ vào chương trình chính thức chứ không suy đoán từ lời văn cổ.
Cuộc đoàn tụ của gia đình thiêng
Những câu:
“Mừng hội Mão vui say phỉ chí
Đón xuân về cha mẹ mừng con”
đưa câu chuyện trở lại với chủ đề gia đình. Trong dịp hội, cha mẹ và người con được gặp lại nhau trong không gian nghi lễ. Sự đoàn tụ này diễn ra không phải trong đời sống trần thế mà qua cuộc rước, qua đền miếu và trí tưởng tượng thiêng của cộng đồng.
Đối với người dự hội, cuộc rước có thể gợi lên mong muốn gia đình sum vầy, con cháu nhớ đến ông bà, người đi xa trở về quê và những chia cách trong cuộc sống được hàn gắn.
Như vậy, giá trị của lễ hội không chỉ nằm ở việc cầu mong sự phù hộ. Nó còn tái khẳng định tình thân, đạo hiếu và ký ức chung của cộng đồng.
Câu “phép nước phải thua lệ làng”
Bản văn số 2 sử dụng câu:
“Bõ câu phép nước phải thua lệ làng.”
Đây là cách vận dụng một thành ngữ quen thuộc trong dân gian, nhằm nhấn mạnh sức bền của phong tục và tình cảm cộng đồng. Tuy nhiên, câu này không nên được hiểu theo nghĩa pháp luật có thể bị bỏ qua mỗi khi xung đột với tập tục địa phương.
Trong xã hội hiện nay, lễ hội và thực hành tín ngưỡng phải được tổ chức trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm an toàn, bảo vệ di tích và tôn trọng quyền lợi của cộng đồng. Những phong tục không còn phù hợp cũng có thể được điều chỉnh.
Giá trị của câu văn nằm ở việc phản ánh vai trò mạnh mẽ của lệ làng trong xã hội truyền thống, chứ không phải lời khuyến khích đặt phong tục cao hơn pháp luật.
Điểm tương đồng giữa hai bản văn
Dù khác nhau về cách kể, hai bản văn vẫn gặp nhau ở một số nội dung cốt lõi.
Ông Hoàng Báo gắn với đất Đông Cuông
Cả hai bản đều xác định Đông Cuông là không gian thiêng trung tâm. Ông Hoàng Báo được sinh ra, hiển thánh, được dựng đền hoặc thực hiện nhiệm vụ bảo hộ tại vùng đất này.
Điều đó cho thấy đây trước hết là một vị thần bản địa của Đông Cuông. Hình tượng của ông không thể được hiểu đầy đủ nếu tách khỏi cảnh quan núi rừng, sông Hồng, Ghềnh Ngai và cộng đồng cư dân địa phương.
Mối quan hệ giữa Mẫu, Đức Ông và Ông Hoàng Báo
Hai dị bản đều đặt Ông Hoàng Báo trong một gia đình thiêng. Người cha được thờ ở Ghềnh Ngai, Mẫu và người con gắn với Đền Đông Cuông.
Gia đình thiêng này là trục chính giải thích cuộc rước. Mẫu và Ông Hoàng Báo không chỉ được rước để tuần du hoặc ban phúc, mà còn để tái hiện cuộc thăm viếng, gặp gỡ với Đức Ông.
Đạo hiếu là phẩm chất trung tâm
Bản số 1 trực tiếp nói đến “đạo hiếu trung”, còn bản số 2 nhiều lần kể chuyện về quê ngoại, kính chúc ông bà, cha mẹ nhớ con và cuộc đoàn tụ.
Ông Hoàng Báo vì vậy được ca ngợi không chỉ nhờ sức mạnh mà còn nhờ lòng hiếu thảo. Đây là đặc điểm quan trọng giúp hình tượng vị thần trở nên gần gũi với đạo lý gia đình.
Lễ hội diễn ra vào ngày Mão đầu
Cả hai bản đều nhắc đến Mão đầu tháng Giêng. Sự lặp lại này cho thấy ngày Mão đầu là một mốc nghi lễ có vị trí đặc biệt trong truyền thống Đông Cuông.
Bản số 1 tập trung vào cuộc rước kiệu Mẫu và Ông Hoàng Báo. Bản số 2 bổ sung cảnh hội bên bãi sông, hoạt động đấu vật và sự tụ họp của dân làng.
Ông Hoàng Báo là vị thần bảo hộ
Bản số 1 mô tả trực tiếp quyền năng trừ tà, thu tinh và tuần hành giữa các cõi. Bản số 2 kể dân làng lập miếu sau những tai biến như lũ lụt, giặc giã, dịch bệnh và hạn hán.
Dù cách biểu đạt khác nhau, cả hai đều thể hiện niềm tin rằng Ông Hoàng Báo có thể bảo vệ cộng đồng. Niềm tin này phản ánh khát vọng của người dân về sự bình yên, mùa màng thuận lợi và cuộc sống có trật tự.
Những điểm khác nhau giữa hai dị bản
Sự khác biệt giữa hai bản văn không nên bị xem đơn giản là một bản đúng và một bản sai. Chúng phản ánh các nguồn truyền khẩu, cách biên soạn và mục đích diễn xướng khác nhau.
Khác nhau về nguồn gốc gia đình
Bản số 1 kể người cha là tù trưởng Mường Khà, một anh hùng trấn giữ biên cương. Bản số 2 lại gọi Ông Hoàng Báo là người thuộc dòng hoàng tộc và có liên hệ với “Lê gia”.
Những chi tiết này chưa thể đồng thời được coi là dữ kiện lịch sử. Có thể đã có sự hòa trộn giữa ký ức về các thủ lĩnh địa phương với mong muốn kết nối nhân vật cùng một triều đại hoặc dòng họ có uy thế.
Khác nhau về trọng tâm câu chuyện
Bản số 1 nhấn mạnh sức mạnh võ thần. Ông Hoàng Báo có thể trừ tà, xuống Diêm La, lên thiên đình và thực hiện nhiệm vụ bảo hộ.
Bản số 2 lại chú trọng nhiều hơn tới bi kịch gia đình, hành trình về quê ngoại, sự qua đời, việc lập đền và cảnh hội đầu xuân.
Một bản phù hợp với không khí triệu thỉnh và ca ngợi uy linh; bản còn lại gần với một truyện thơ kể sự tích địa phương.
Khác nhau về quá trình hiển thánh
Trong bản số 1, Ông Hoàng Báo dường như tiếp nối người cha và cùng Mẫu quản cai Mường Khà trước khi được phong thần.
Trong bản số 2, mẹ con cùng trở về cõi tiên, sau đó dân làng gặp tai biến, nhận điềm báo và lập miếu thờ.
Sự khác nhau này cho thấy câu chuyện về Ông Hoàng Báo chưa từng được cố định thành một bản tiểu sử duy nhất. Hình tượng của ông được bồi đắp dần qua trí nhớ và nhu cầu biểu đạt của cộng đồng.
Đặc điểm ngôn ngữ của bản văn Ông Hoàng Báo
Hai bản văn sử dụng ngôn ngữ pha trộn giữa lời ăn tiếng nói dân gian, từ Hán Việt, thuật ngữ nghi lễ và địa danh địa phương.
Những cụm như “vọng bái”, “chứng tri”, “nhĩ thính nhỡn khai”, “tốc lai”, “thiên đình”, “Diêm La”, “trắc giáng” hoặc “khuông phù” tạo sắc thái trang trọng. Chúng giúp phân biệt lời văn nghi lễ với lời kể thông thường.
Bên cạnh đó là những hình ảnh rất gần với đời sống:
- Rừng xanh, núi đỏ.
- Ngọn cỏ nương mây.
- Góc núi ven sông.
- Bãi sông.
- Mục đồng đấu vật.
- Ông bà ngoại.
- Cha mẹ mừng con.
Sự kết hợp này khiến bản văn vừa mang vẻ uy nghiêm của điện thần, vừa giữ được nét thân thuộc của một câu chuyện gia đình ở miền núi.
Về thể thơ, hai bản có nhịp điệu khá linh hoạt, không hoàn toàn tuân thủ một thể thơ duy nhất. Có đoạn gần lục bát, có đoạn sử dụng câu bảy hoặc tám tiếng, cũng có những câu dài ngắn không đều.
Đặc điểm đó có thể liên quan tới cách hát. Trong diễn xướng, cung văn có thể kéo dài âm, luyến láy, lặp từ hoặc thay đổi nhịp để phù hợp với làn điệu. Vì vậy, số tiếng trên trang giấy không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ nhịp điệu khi được hát.
Hình tượng Ông Hoàng Báo qua lời văn
Một người con hiếu thảo
Đạo hiếu là lớp ý nghĩa nổi bật nhất. Ông nhớ lời cha, ở bên mẹ, theo mẹ về thăm quê ngoại và tham gia cuộc rước sang Ghềnh Ngai.
Hình tượng này giúp Ông Hoàng Báo khác với một võ thần chỉ được biết đến qua chiến công. Sức mạnh của ông luôn gắn với tình thân và trách nhiệm gia đình.
Người tiếp nối sự nghiệp của cha
Trong bản số 1, sau khi người cha qua đời, Ông Hoàng Báo cùng Mẫu tiếp tục quản cai vùng đất. Ông đại diện cho thế hệ kế tiếp, nhận trách nhiệm từ cha và bảo vệ những gì gia đình đã gây dựng.
Đây cũng là biểu tượng về sự kế tục giữa các thế hệ trong cộng đồng. Con cháu tiếp nhận đất đai, phong tục, nghề nghiệp và ký ức của tổ tiên, sau đó có trách nhiệm gìn giữ và truyền lại.
Một vị quan võ bảo vệ cộng đồng
Những hình ảnh sấm chớp, kiếm cờ, trừ tà và tuần hành cho thấy Ông Hoàng Báo được hình dung như một vị quan võ mạnh mẽ.
Dưới góc nhìn văn hóa, quyền năng ấy đại diện cho mong muốn chiến thắng những lực lượng gây bất ổn. “Tà quỷ” trong bản văn có thể được hiểu rộng như biểu tượng của bệnh tật, tai họa, nỗi sợ hãi và những hành vi làm tổn hại cộng đồng.
Vị thần của bản đền Đông Cuông
Ông Hoàng Báo không nên bị đồng nhất với Ông Hoàng Bảy hoặc mặc nhiên xếp thành một vị riêng trong danh sách mười Ông Hoàng phổ biến của hệ thống Tứ phủ.
Tư liệu và bản văn cho thấy ông trước hết là nhân vật đặc thù của Đông Cuông, gắn với Mẫu Đông Cuông, Đức Ông Ghềnh Ngai và truyền thống của cộng đồng địa phương.
Sự giao thoa với tín ngưỡng thờ Mẫu và văn chầu giúp hình tượng của ông được diễn giải bằng ngôn ngữ Tứ phủ. Tuy nhiên, lớp bản địa vẫn là yếu tố không thể bỏ qua.
Giá trị của bản văn đối với việc tìm hiểu Đền Đông Cuông
Lưu giữ ký ức địa phương
Bản văn bảo lưu nhiều địa danh, nhân vật và nghi thức mà các văn bản hành chính khó phản ánh đầy đủ. Qua lời hát, người nghe biết đến Mậu A, Trái Hút, Mường Khà, Đông Cuông và Ghềnh Ngai.
Những địa danh ấy tạo thành bản đồ văn hóa của câu chuyện. Chúng giúp hình tượng Ông Hoàng Báo không trở thành một vị thần trừu tượng mà luôn gắn với một vùng đất cụ thể.
Giải thích ý nghĩa cuộc rước
Nếu chỉ quan sát lễ hội, du khách có thể thấy kiệu Mẫu và kiệu Ông Hoàng Báo được rước ra bờ sông nhưng chưa hiểu hết ý nghĩa. Bản văn cung cấp mạch kể về Mẫu, Đức Ông và người con, qua đó giải thích cuộc rước như một lần thăm viếng và đoàn tụ gia đình.
Văn bản và nghi lễ bổ sung cho nhau. Lời văn kể chuyện, còn đoàn rước biến câu chuyện thành hành động tập thể trong không gian thực.
Phản ánh sự giao thoa tín ngưỡng
Trong hai bản văn cùng xuất hiện Mẫu, Ông Hoàng, Sơn tinh, Đế Thích, thiên đình, Diêm La và nhiều thuật ngữ khác. Điều này cho thấy đời sống tín ngưỡng Đông Cuông đã tiếp nhận và kết hợp nhiều lớp quan niệm.
Sự giao thoa không nhất thiết tạo thành một hệ thống giáo lý chặt chẽ. Nó phản ánh cách cộng đồng lựa chọn những biểu tượng phù hợp để diễn tả thế giới thiêng.
Gìn giữ đạo lý gia đình
Dù người nghe có thực hành tín ngưỡng hay không, bản văn vẫn có thể được tiếp cận như một tác phẩm nhắc nhở về lòng hiếu thảo, sự biết ơn tổ tiên và trách nhiệm với quê hương.
Đây là giá trị nhân văn có khả năng tiếp tục tồn tại ngay cả khi hình thức lễ hội và cách diễn xướng thay đổi.
Có thể dùng bản văn như tư liệu lịch sử không?
Bản văn Ông Hoàng Báo có giá trị đối với nghiên cứu văn hóa, nhưng cần được sử dụng đúng giới hạn.
Những nội dung có thể khai thác gồm:
- Cách cộng đồng hình dung về Ông Hoàng Báo.
- Quan hệ giữa nhân vật với Mẫu và Đức Ông.
- Địa danh xuất hiện trong ký ức dân gian.
- Ý nghĩa của lễ hội Mão đầu.
- Quan niệm về đạo hiếu và thần bảo hộ.
- Ngôn ngữ, hình ảnh và cấu trúc của văn chầu.
- Quá trình giao thoa giữa các lớp tín ngưỡng.
Ngược lại, không nên dùng bản văn như nguồn duy nhất để khẳng định:
- Năm sinh và năm mất của Ông Hoàng Báo.
- Danh tính chính xác của người cha.
- Ông thuộc triều đại hoặc dòng họ nào.
- Mường Khà có địa giới cụ thể ra sao.
- Triều đình từng phong tước đúng như lời văn.
- Mọi nghi thức được kể vẫn còn thực hiện nguyên vẹn hiện nay.
Muốn xác định những vấn đề lịch sử ấy cần đối chiếu thần tích, sắc phong, bia ký, gia phả, thư tịch, hồ sơ di tích và kết quả nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn.
Ngay cả khi có văn bản sắc phong hoặc thần tích, người nghiên cứu vẫn phải xem xét niên đại, hoàn cảnh biên soạn và khả năng văn bản đã được sao chép, bổ sung qua nhiều thời kỳ.
Vì sao bản văn có nhiều dị bản?
Bản văn tín ngưỡng được truyền bằng cả chữ viết và trí nhớ. Một cung văn có thể học từ thầy, nghe tại lễ hội rồi chép lại. Người khác có thể bổ sung địa danh, sửa nhịp hoặc thay một số câu để phù hợp với bản đền nơi mình thực hành.
Một số nguyên nhân tạo ra dị bản gồm:
Thứ nhất, lời văn được truyền miệng. Khi nhớ không trọn vẹn, người hát có thể thay từ nhưng vẫn giữ ý chính.
Thứ hai, cách phát âm địa phương có thể dẫn đến nhiều cách ghi. Tên người, tên mường và thuật ngữ nghi lễ thường dễ bị chép khác nhau.
Thứ ba, bản văn được điều chỉnh theo làn điệu. Một câu có thể thêm hoặc bớt tiếng để dễ hát.
Thứ tư, người biên soạn muốn kết nối vị thần với lịch sử của dòng họ, triều đại hoặc vùng đất mình biết. Điều này có thể tạo ra những lớp gia thế khác nhau.
Thứ năm, bản văn chịu ảnh hưởng của các hệ thống tín ngưỡng khác. Những danh hiệu quen thuộc trong Tứ phủ, Phật giáo hoặc Đạo giáo có thể được đưa vào để làm tăng sắc thái trang trọng.
Do đó, khi sưu tầm bản văn, điều quan trọng không phải là vội vàng loại bỏ các bản khác nhau. Mỗi dị bản cần được ghi rõ người cung cấp, địa điểm, thời gian sưu tầm, hoàn cảnh sử dụng và cách trình diễn.
Thông tin ấy giúp người nghiên cứu nhận ra bản nào thuộc truyền thống bản đền, bản nào được cung văn ở nơi khác phát triển và chi tiết nào mới xuất hiện trong thời gian gần đây.
Lưu ý khi phổ biến và sử dụng bản văn
Bản văn Ông Hoàng Báo có thể được đọc, giới thiệu hoặc diễn xướng trong không gian phù hợp. Tuy nhiên, việc sử dụng cần tôn trọng cộng đồng đang gìn giữ di sản.
Không nên tự nhận một dị bản là “bản cổ duy nhất” hoặc “bản chính xác tuyệt đối” khi chưa có căn cứ. Cũng không nên gắn lời văn với những lời quảng bá như đọc bản văn sẽ chắc chắn được ban tài lộc, chữa bệnh hoặc thay đổi số phận.
Khi đăng tải, nên ghi rõ đây là bản lưu truyền hoặc bản sưu tầm. Nếu biết người cung cấp, cung văn, bản đền và thời điểm ghi chép thì nên lưu lại những thông tin ấy trong hồ sơ tư liệu, ngay cả khi bài giới thiệu phổ thông không đưa toàn bộ thông tin ra ngoài.
Một số từ khó hiểu hoặc có nhiều cách chép không nên tùy tiện sửa theo suy đoán. Có thể chú thích rằng từ ấy chưa rõ nghĩa hoặc đang có dị bản. Việc sửa một từ tưởng như nhỏ đôi khi làm thay đổi tên địa phương, danh hiệu hoặc nội dung truyền tích.
Khi biểu diễn trong lễ hội, người tham gia cần tuân thủ hướng dẫn của ban tổ chức và tôn trọng không gian thờ tự. Hát văn là một hình thức nghệ thuật nghi lễ, không phải phương tiện để gây ồn ào, phô trương hoặc thương mại hóa niềm tin.
Cách nhìn nhận phù hợp về bản văn Ông Hoàng Báo
Bản văn có thể được nhìn nhận trên ba phương diện.
Trước hết, đây là tác phẩm văn học dân gian. Nó sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu linh hoạt và nhiều mô típ truyền thuyết để kể về một nhân vật thiêng.
Thứ hai, đây là văn bản nghi lễ. Những lời triệu thỉnh, ca ngợi và cầu chúc có chức năng kết nối cộng đồng thực hành với vị thần được thờ.
Thứ ba, đây là nguồn ký ức văn hóa. Bản văn ghi lại cách người dân lý giải nguồn gốc đền miếu, lễ hội, cuộc rước và quan hệ giữa Mẫu, Đức Ông với Ông Hoàng Báo.
Ba phương diện này có liên hệ chặt chẽ nhưng không nên thay thế lẫn nhau. Giá trị văn học không chứng minh mọi tình tiết là lịch sử. Việc bản văn được dùng trong nghi lễ cũng không có nghĩa những lời cầu xin sẽ luôn tạo ra một kết quả cụ thể.
Tiếp cận tỉnh táo không làm giảm sự trang trọng của bản văn. Ngược lại, cách nhìn này giúp nhận ra những giá trị bền vững hơn: đạo hiếu, ký ức cộng đồng, nghệ thuật diễn xướng và mối quan hệ giữa con người với quê hương.
Kết luận
Bản văn Ông Hoàng Báo Đông Cuông là một bộ phận đáng chú ý trong kho tàng văn chương tín ngưỡng gắn với Đền Đông Cuông. Qua lời thỉnh, lời kể sự tích và những câu ca ngợi, Ông Hoàng Báo hiện lên như người con hiếu thảo của Mẫu, người tiếp nối trách nhiệm của cha và vị thần bảo hộ cộng đồng vùng núi phía Bắc.
Hai dị bản được lưu truyền có nhiều khác biệt. Bản số 1 nhấn mạnh khí phách võ thần, nguồn gốc ở Mường Khà, quyền năng trừ tà và việc cùng Mẫu quản cai vùng đất. Bản số 2 thiên về câu chuyện gia đình, sự chia lìa, việc lập đền miếu và không khí lễ hội Mão đầu bên bờ sông.
Dù khác nhau, cả hai bản đều gặp nhau ở những hình tượng cốt lõi: đất Đông Cuông, Ghềnh Ngai, Mẫu, Đức Ông, Ông Hoàng Báo, đạo hiếu và cuộc rước đầu xuân. Chính những yếu tố ấy tạo nên bản sắc riêng của truyền tích Ông Hoàng Báo, không thể hòa lẫn hoàn toàn với sự tích của những vị Ông Hoàng khác.
Khi tìm hiểu bản văn, cần phân biệt lời ca tín ngưỡng với dữ kiện lịch sử. Các chi tiết về dòng hoàng tộc, tù trưởng Mường Khà, sắc phong thiên giới hoặc những quyền năng siêu nhiên nên được giới thiệu đúng bản chất là ngôn ngữ truyền tích và biểu tượng văn hóa.
Giá trị lâu dài của bản văn không nằm ở những lời hứa ban phát tài lộc hay thay đổi vận mệnh. Điều đáng trân trọng hơn là khả năng lưu giữ ký ức địa phương, nuôi dưỡng đạo lý biết ơn cha mẹ, kết nối các thế hệ và làm sống lại không gian văn hóa Đền Đông Cuông trong đời sống cộng đồng.