Bản văn Ông Hoàng Báo Đông Cuông phản ánh truyền tích, đạo hiếu, lễ rước Mão đầu và ký ức cộng đồng vùng thượng lưu sông Hồng.
Bản văn Ông Hoàng Báo Đông Cuông là những lời ca dùng để thỉnh mời, ca ngợi và kể lại sự tích của vị thần nam được thờ cùng Mẫu Đông Cuông. Qua hình thức văn vần giàu nhịp điệu, bản văn tái hiện hình tượng Ông Hoàng Báo vừa là người con của Mẫu, vừa mang dáng dấp một vị quan võ có nhiệm vụ bảo hộ bản làng, trấn giữ miền biên viễn và giúp dân vượt qua tai biến.
Không chỉ kể chuyện về một nhân vật thiêng, các dị bản còn lưu giữ nhiều lớp ký ức gắn với Đền Đông Cuông, Ghềnh Ngai, ngày Mão đầu tháng Giêng, nghi thức rước Mẫu và Ông Hoàng Báo, cùng quan niệm truyền thống về đạo hiếu, nghĩa gia đình và sự gắn bó giữa con người với quê hương. Một số câu văn còn nhắc tới Mậu A, Trái Hút, Mường Khà và vùng sông núi thượng lưu sông Hồng, tạo nên không gian địa phương khá rõ nét.
Tuy nhiên, bản văn tín ngưỡng không phải là một bản tiểu sử lịch sử theo nghĩa hiện đại. Giữa các dị bản có nhiều khác biệt về nguồn gốc, gia thế, diễn biến cuộc đời và cách Ông Hoàng Báo được phong thần. Vì vậy, nội dung trong bản văn cần được tiếp cận như truyền tích, ký ức cộng đồng và ngôn ngữ nghi lễ, không nên mặc nhiên coi tất cả chi tiết là dữ kiện lịch sử đã được kiểm chứng.
Bản văn Ông Hoàng Báo là gì?
Bản văn Ông Hoàng Báo thuộc mạch văn chầu, văn thỉnh và văn ca ngợi các vị thần trong thực hành tín ngưỡng dân gian. Tùy từng bản đền, cung văn hoặc cộng đồng thực hành, lời văn có thể được hát trong những dịp lễ, dùng khi thỉnh mời vị thần hoặc được đọc như một hình thức kể lại sự tích.

Trong các bản văn được lưu truyền, Ông Hoàng Báo thường xuất hiện với những danh xưng như:
- Ông Báo Hoàng.
- Ông Hoàng Báo.
- Quan Hoàng Báo.
- Đức Hoàng.
- Vua Báo.
- Vua Con.
Tên gọi “vua Con” được đặt trong mối quan hệ với “vua Mẹ”, tức Mẫu Đông Cuông. Cách tôn xưng này không nhất thiết có nghĩa Ông Hoàng Báo từng là một vị vua theo lịch sử chính trị. Trong ngôn ngữ tín ngưỡng dân gian, những từ như vua, quan, chúa hoặc hoàng còn biểu thị sự tôn kính và địa vị thiêng của nhân vật được thờ phụng.
Các bản văn thường không có một tác giả duy nhất được xác định rõ ràng. Lời văn được truyền qua nhiều thế hệ, qua trí nhớ của cung văn, người thủ nhang, người thực hành nghi lễ và cư dân địa phương. Trong quá trình đó, một số câu chữ có thể thay đổi, địa danh có thể được bổ sung, còn các lớp truyền thuyết khác nhau có thể được kết hợp vào cùng một bài.
Do vậy, không nên coi một bản đang được lưu hành là bản duy nhất hoặc bản chuẩn tuyệt đối. Việc tồn tại nhiều dị bản chính là một đặc điểm của văn học truyền khẩu và văn chương nghi lễ dân gian.
Hai dị bản Ông Hoàng Báo Đông Cuông
Hai bản văn dưới đây thể hiện hai cách kể khá khác nhau về Ông Hoàng Báo. Bản thứ nhất nhấn mạnh nguồn gốc thần thánh, khí phách võ tướng, đạo hiếu và quyền năng bảo hộ. Bản thứ hai tập trung nhiều hơn vào quan hệ gia đình, cuộc chia lìa giữa cha mẹ và người con, sự hình thành đền miếu cùng không khí lễ hội Mão đầu.
Phần lời văn được chép lại theo nội dung lưu truyền, chỉ chuẩn hóa một số chữ hoa, dấu câu và lỗi chính tả rõ ràng. Những từ ngữ chưa đủ căn cứ để xác định cách viết khác được giữ theo dị bản.
Bản văn Ông Hoàng Báo số 1
Đệ tử con khấu đầu vọng bái
Trên tòa vàng Phật Thánh chứng tri
Ông Báo Hoàng ngự cảnh lưu ly
Mậu A, Trái Hút hách danh độ ngườiTrống ba hồi nghe lời triệu thỉnh
Ông Báo Hoàng nhĩ thính nhỡn khai
Thần thông dũng mãnh tốc lai
Hào quang chớp giật các nơi sấm rềnSuối cam tuyền rừng xanh núi đỏ
Ngàn tiêu dao ngọn cỏ nương mây
Bao nhiêu tà quỷ khi nay
Vẳng nghe tiếng thét hồn bay phách dờiNhớ thuở thời khai thiên lập địa
Đất Đông Cuông giáng hiện thánh nhân
Cành hồng phơi phới gió xuân
Điềm lành quý tử giáng sinh hạ trầnTrấn Mường Khà cha là tù trưởng
Đấng anh hùng trấn giữ biên cương
Giao phong trận thế khôn lường
Phụ thân tạ thế lên đường mây xanhNhớ lời cha ấm tình phụ tử
Đạo hiếu trung gìn giữ không sai
Đức Ông ngự Miếu Ghềnh Ngai
Hoàng cùng Thánh Mẫu quản cai Mường KhàChiếu thiên cung phong là thượng đẳng
Đạo sắc phong truy tặng đề tên
Muôn dân ghi nhớ lập đền
Mão đầu mở hội tháng Giêng nức lòngRước kiệu Mẫu cùng Ông Hoàng Báo
Sang Ghềnh Ngai thăm viếng Đức Ông
Chữ rằng sắc sắc không không
Đức Hoàng hiển thánh uy phong độ ngườiKhi thanh nhàn dạo chơi mọi chốn
Lúc sai hành thu tróc quỷ ma
Có phen lại xuống Diêm La
Mở cờ dẹp nước khảo tà thu tinhLên thiên đình cưỡi mây nương gió
Xuống phàm trần ai có dám đang
Tâm thành thiết lập đàn tràng
Kêu cầu tất ứng vẻ vang hay làTrước điện tòa con thời phụng sự
Sau tu hành lấy chữ thiện tâm
Ơn nhờ Thánh giáng lưu ân
Đức Hoàng giáng phúc thiên xuân thọ trường.
Bản văn Ông Hoàng Báo số 2
Nước thịnh trị dâng câu thiên bảo
Đất Đông Cuông Ông Hoàng Báo hiển linh
Cõi đời không có tử sinh
Thì đâu có đấng dân lành hiếu trungÔng Hoàng Báo vốn dòng hoàng tộc
Mồ côi cha từ lúc còn thơ
Tết xuân theo mẹ về nhà
Khấu đầu kính chúc ông bà ngoại thânMừng gia tộc thôn dân vui Tết
Tỏ tấc lòng tha thiết ngoại hương
Ai hay cực nhục phũ phàng
Thực lòng mẹ cũng dành đường cùng conXót luân lý trông mòn đôi mắt
Chân đã chồn đường đất còn xa
Lênh đênh góc núi ven hà
Ra đi tháng Mão mồng ba giờ DầnHoa nở Dần Mão tuần hoa tạ
Hẹn ngày về từ giã ngày đi
Tử sinh cùng hẹn cũng kỳ
Khách tiên nay lại trở về cõi tiênHoàng theo mẹ cùng lên cõi thọ
Đài xuân còn ghi sổ tiên cung
Tam thiên Đế Thích ban phong
Sơn tinh Ông Báo nối dòng Lê giaKể từ buổi sơn hà cách biệt
Dấu tiên tung ai biết tăm hơi
Bỗng đâu chuyển đất động trời
Ba năm hồng thủy cứu người thác oanNạn giặc giã nhà tan cướp của
Dịch lan tràn, nắng nỏ ruộng khô
Trẻ già dân sự toan lo
Nhớ lời mẹ dặn năm xưa rành rànhSửa lễ vật sang ghềnh lập miếu
Ứng chiêm bao mộng triệu hiển nhiên
Đông Cuông dựng miếu lập đền
Mão đầu trảy hội rước Tiên sang ghềnhRước Ông Báo tiến trình nghi lễ
Giết trâu hồng kính để Ghềnh Ngai
Bãi sông gái sắc trai tài
Mục đồng đấu vật cho người giải khuâyMừng hội Mão vui say phỉ chí
Đón xuân về cha mẹ mừng con
Sinh không được chữ vuông tròn
Tử sao cách biệt nước non bấy chầyCơ tạo hóa đặt bày lắm nỗi
Ngăn một dòng bể đợi bến mong
Mới hay hồng diệp xích thằng
Trời kia đã buộc ai giằng cho raGương hóa tục cho ta soi mãi
Chữ hiếu trinh sá ngại trời xưa
Gương còn soi mãi đến giờ
Bõ câu phép nước phải thua lệ làngƠn Thánh Mẫu mở đường chỉ lối
Quốc tự do sáng rợi bốn phương
Mão đầu trảy hội Đông Cuông
Nguyện xin bốn chữ thọ khang yên lànhThỉnh Hoàng trắc giáng điện đình
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.
Bố cục của bản văn Ông Hoàng Báo số 1
Bản văn số 1 có cấu trúc gần với một bài thỉnh kết hợp kể sự tích và ca ngợi quyền năng. Có thể nhận ra bốn phần tương đối rõ: mở lời triệu thỉnh, kể nguồn gốc, mô tả công trạng và kết thúc bằng lời cầu nguyện.
Phần triệu thỉnh Ông Hoàng Báo
Bản văn mở đầu bằng lời khấu bái:
“Đệ tử con khấu đầu vọng bái
Trên tòa vàng Phật Thánh chứng tri.”
Người hành lễ tự đặt mình trong tư thế khiêm nhường, hướng về điện thần và xin các đấng thiêng chứng giám. Đây là lối mở thường gặp trong văn chương nghi lễ, nhằm xác lập quan hệ giữa người thỉnh và đối tượng được thỉnh.
Sau lời bái vọng là tiếng trống triệu thỉnh:
“Trống ba hồi nghe lời triệu thỉnh
Ông Báo Hoàng nhĩ thính nhỡn khai.”
“Nhĩ thính, nhỡn khai” có thể hiểu là tai nghe, mắt mở, một cách nói mang tính nghi lễ để thỉnh vị thần nhận biết lời cầu và giáng về chứng lễ. Không nên hiểu câu này theo nghĩa vị thần vốn không nghe hoặc không thấy, mà đây là lối diễn đạt ước lệ trong văn thỉnh.
Hình ảnh “hào quang chớp giật”, “các nơi sấm rền” tạo nên không khí linh thiêng, mạnh mẽ. Ông Hoàng Báo được hình dung không xuất hiện âm thầm mà giáng về cùng những dấu hiệu của sức mạnh trời đất.
Bố cục của bản văn Ông Hoàng Báo số 2
So với bản thứ nhất, bản văn số 2 có màu sắc tự sự rõ hơn. Tác phẩm kể một câu chuyện gia đình với những cuộc chia lìa, nỗi đau, sự qua đời, việc lập đền miếu và cuộc đoàn tụ trong lễ hội.
Lời mở đầu đề cao hiếu trung
Bản văn mở bằng câu:
“Đất Đông Cuông Ông Hoàng Báo hiển linh
Cõi đời không có tử sinh
Thì đâu có đấng dân lành hiếu trung.”
Sinh và tử được đặt như hai phần tất yếu của đời người. Chính trong giới hạn của kiếp người, những phẩm chất như trung thành, hiếu nghĩa và lòng nhân ái mới được bộc lộ.
Cách mở đầu này báo trước trọng tâm của bản văn số 2 không nằm hoàn toàn ở quyền năng thần thánh. Câu chuyện muốn tôn vinh một con người có đạo hiếu, sau khi qua đời được cộng đồng tưởng nhớ và thờ phụng.
Một dị bản khác về gia thế
Bản văn số 2 kể:
“Ông Hoàng Báo vốn dòng hoàng tộc
Mồ côi cha từ lúc còn thơ.”
Chi tiết “dòng hoàng tộc” khác với bản văn số 1, trong đó người cha được giới thiệu là tù trưởng trấn giữ Mường Khà. Về sau, bản số 2 lại có câu “Sơn tinh Ông Báo nối dòng Lê gia”, đưa thêm yếu tố dòng họ Lê vào sự tích.
Sự khác biệt này cho thấy bản văn đã tiếp nhận nhiều lớp truyền kể. Có thể mỗi cộng đồng hoặc người biên soạn muốn kết nối Ông Hoàng Báo với một dòng họ, một triều đại hay một truyền thống lịch sử khác nhau.
Đặc điểm ngôn ngữ của bản văn Ông Hoàng Báo
Hai bản văn sử dụng ngôn ngữ pha trộn giữa lời ăn tiếng nói dân gian, từ Hán Việt, thuật ngữ nghi lễ và địa danh địa phương.
Những cụm như “vọng bái”, “chứng tri”, “nhĩ thính nhỡn khai”, “tốc lai”, “thiên đình”, “Diêm La”, “trắc giáng” hoặc “khuông phù” tạo sắc thái trang trọng. Chúng giúp phân biệt lời văn nghi lễ với lời kể thông thường.
Bên cạnh đó là những hình ảnh rất gần với đời sống:
- Rừng xanh, núi đỏ.
- Ngọn cỏ nương mây.
- Góc núi ven sông.
- Bãi sông.
- Mục đồng đấu vật.
- Ông bà ngoại.
- Cha mẹ mừng con.
Sự kết hợp này khiến bản văn vừa mang vẻ uy nghiêm của điện thần, vừa giữ được nét thân thuộc của một câu chuyện gia đình ở miền núi.
Về thể thơ, hai bản có nhịp điệu khá linh hoạt, không hoàn toàn tuân thủ một thể thơ duy nhất. Có đoạn gần lục bát, có đoạn sử dụng câu bảy hoặc tám tiếng, cũng có những câu dài ngắn không đều.
Đặc điểm đó có thể liên quan tới cách hát. Trong diễn xướng, cung văn có thể kéo dài âm, luyến láy, lặp từ hoặc thay đổi nhịp để phù hợp với làn điệu. Vì vậy, số tiếng trên trang giấy không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ nhịp điệu khi được hát.
Giá trị của bản văn đối với việc tìm hiểu Đền Đông Cuông
Lưu giữ ký ức địa phương
Bản văn bảo lưu nhiều địa danh, nhân vật và nghi thức mà các văn bản hành chính khó phản ánh đầy đủ. Qua lời hát, người nghe biết đến Mậu A, Trái Hút, Mường Khà, Đông Cuông và Ghềnh Ngai.
Giải thích ý nghĩa cuộc rước
Nếu chỉ quan sát lễ hội, du khách có thể thấy kiệu Mẫu và kiệu Ông Hoàng Báo được rước ra bờ sông nhưng chưa hiểu hết ý nghĩa. Bản văn cung cấp mạch kể về Mẫu, Đức Ông và người con, qua đó giải thích cuộc rước như một lần thăm viếng và đoàn tụ gia đình.
Phản ánh sự giao thoa tín ngưỡng
Trong hai bản văn cùng xuất hiện Mẫu, Ông Hoàng, Sơn tinh, Đế Thích, thiên đình, Diêm La và nhiều thuật ngữ khác. Điều này cho thấy đời sống tín ngưỡng Đông Cuông đã tiếp nhận và kết hợp nhiều lớp quan niệm.
Gìn giữ đạo lý gia đình
Dù người nghe có thực hành tín ngưỡng hay không, bản văn vẫn có thể được tiếp cận như một tác phẩm nhắc nhở về lòng hiếu thảo, sự biết ơn tổ tiên và trách nhiệm với quê hương.