Tìm hiểu bản văn chầu Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình, hình tượng thánh bản địa, địa danh và giá trị văn hóa trong hát văn dân gian.
Trong kho tàng văn chầu của người Việt, bên cạnh những bản văn ca ngợi các vị Thánh Mẫu, Quan Lớn, Chầu Bà, Ông Hoàng và Thánh Cô quen thuộc, còn có một nhóm văn bản gắn với thần linh bản địa. Những bài văn này thường được gọi bằng các tên như văn bản cảnh, văn bản xứ, văn bản tỉnh hoặc văn ca ngợi một vị nữ thần được cộng đồng sở tại tôn kính. Bản văn chầu Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình thuộc mạch sáng tác và lưu truyền ấy.
Điểm nổi bật của bản văn không nằm ở một thần tích hoàn chỉnh kể về thân thế, quê quán hay công trạng của Chúa Bà. Thay vào đó, hình tượng Chúa hiện ra giữa một không gian địa lý giàu biểu tượng của vùng Ninh Bình: núi Dục Thúy, sông Vân, Tam Cốc, Bích Động, Tràng An, những động núi, đền phủ, sông ngòi và đường giao thông cổ. Qua lời văn, cảnh sắc thiên nhiên được chuyển hóa thành một bản đồ thiêng, nơi mỗi ngọn núi, dòng sông và cửa đền đều có thể trở thành dấu mốc trong hành trình du ngoạn của thần linh.

Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình là ai?
Ý nghĩa của danh xưng “Bản tỉnh”
Trong ngôn ngữ tín ngưỡng dân gian, chữ “bản” thường chỉ nơi sở tại, vùng đất đang được nói tới hoặc không gian mà một cộng đồng cư trú. Từ đó hình thành những danh xưng như bản thổ, bản cảnh, bản xứ, bản đền và bản tỉnh.
Chúa Bà có thuộc hàng Chầu Bà trong Tứ phủ không?
Tên gọi “Chúa Bà” dễ khiến người đọc liên hệ tới hàng Chúa hoặc hàng Chầu trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy nhiên, các cách gọi Chúa, Chầu, Bà Chúa, Thánh Bà và Mẫu trong thực hành dân gian không phải lúc nào cũng được sử dụng theo một hệ thống duy nhất.
Không nên dựng thêm thần tích khi chưa có tư liệu
Một trong những hạn chế thường gặp khi viết về thần linh địa phương là cố gắng tạo ra một tiểu sử đầy đủ cho nhân vật dù tư liệu không cho phép. Chỉ từ vài câu văn ca ngợi núi rừng, sông nước và quyền phép, người viết có thể suy diễn Chúa Bà là công chúa của một triều đại, nữ tướng giúp vua đánh giặc, người khai phá vùng đất hoặc hóa thân của một vị Mẫu.
Bản văn chầu Chúa Bà Bản tỉnh được lưu truyền như thế nào?
Chưa xác định được tác giả và niên đại
Bản văn hiện xuất hiện dưới một số tên gọi gần nhau như:
- Bản văn chầu Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình;
- Bản hát văn chầu Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình;
- Văn Chúa Bản Tỉnh Ninh Bình;
- Chầu Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình.
Các bản được đăng tải có nội dung tương đối giống nhau, nhưng thường không ghi tên tác giả, người sưu tầm đầu tiên, thời điểm sáng tác hoặc nguồn bản chép cổ. Một số lỗi chính tả, từ khó hiểu và cách ngắt dòng thiếu thống nhất cho thấy văn bản đã trải qua quá trình sao chép nhiều lần.
Vì chưa tìm thấy bản Nôm, bản viết tay có niên đại, bản in cổ hoặc hồ sơ sưu tầm điền dã đáng tin cậy, không nên gọi đây là “bản văn cổ” theo nghĩa một văn bản đã được xác định niên đại. Cách gọi thích hợp hơn là bản văn đang lưu truyền trong cộng đồng và trên môi trường mạng.
Vì sao bản văn có nhiều dị bản?
Hát văn vốn tồn tại đồng thời dưới dạng lời viết và diễn xướng. Cung văn có thể ghi nhớ lời theo truyền thống của thầy truyền dạy, thay đổi một số câu để phù hợp địa điểm hành lễ, thêm bớt địa danh hoặc điều chỉnh từ ngữ cho thuận làn điệu.
Khi được chép lại, người ghi có thể nghe nhầm những từ Hán Việt, từ cổ hoặc địa danh ít quen thuộc. Một câu bị sai một chữ có thể tiếp tục được sao chép qua nhiều trang khác nhau, dần trở thành một phiên bản phổ biến dù nghĩa không còn rõ.
Chẳng hạn, một số câu trong bản lưu truyền có cấu trúc chưa thật trọn nghĩa, hoặc sử dụng từ “trốn” thay cho “chốn”. Những điểm này cần được khảo dị thay vì tự ý sửa theo cảm tính. Một từ tưởng là lỗi chính tả đôi khi có thể là cách phát âm địa phương, dấu vết của một từ cổ hoặc kết quả biến âm khi hát.
Bản văn không phải thần tích
Thần tích thường trình bày khá rõ tên tuổi, quê quán, cha mẹ, thời đại, công trạng, ngày sinh, ngày hóa và sự hiển linh của một vị thần. Bản văn Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình không có bố cục như vậy.
Nội dung chủ yếu gồm ba lớp:
- Dâng lời thành kính và thỉnh Chúa chứng đàn;
- Miêu tả cảnh sắc, hành trình qua các địa danh Ninh Bình;
- Ca ngợi ánh sáng, sự bảo hộ và cầu mong cộng đồng bình an.
Vì thế, không thể dùng bản văn làm căn cứ duy nhất để viết tiểu sử Chúa Bà. Văn bản phản ánh cách cộng đồng hình dung về sự hiện diện của Chúa trong cảnh quan quê hương hơn là cung cấp dữ kiện lịch sử.
Nội dung chính của bản văn lưu truyền
Lời mở đầu mang tính dâng chầu
Mở đầu bản văn là lời của người đệ tử dâng lòng thành và tiến văn lên Chúa Bà. Cách mở này quen thuộc trong nhiều bản hát văn: người hát tự đặt mình ở vị trí khiêm cung, xin được dùng tiếng đàn, lời ca và hương đăng để bày tỏ sự kính ngưỡng.
Câu mở nổi tiếng “Ninh Bình chốn ấy bao xa” dẫn người nghe rời khỏi không gian đàn lễ để bước vào một miền phong cảnh. Ninh Bình hiện ra như vùng đất có mây nước, núi non và các danh thắng nối tiếp nhau.
Điều đáng chú ý là bản văn không mở bằng thân thế Chúa Bà mà mở bằng quê hương của Chúa. Vùng đất trở thành căn cước của thần linh. Chúa Bà được nhận biết thông qua địa phương mà bà bảo trợ, du ngoạn và chứng giám.
Hình tượng Chúa Bà giữa núi rừng
Chúa Bà trong lời văn mang dáng dấp một nữ thần sơn thủy. Bà hiện diện giữa đồi núi phủ mây, động tiên, rừng quế, rừng tùng, suối khe và hoa cỏ. Cảnh trí vừa có chất vùng núi, vừa có nét cung đình hóa thường gặp trong văn chầu.
Những hình ảnh như xe loan, thuyền rồng, lầu vàng, đuốc tiên và sắc lệnh thiên đình nâng Chúa Bà từ một thần linh địa phương lên vị thế trang trọng trong thế giới thiêng. Đây là thủ pháp nghệ thuật phổ biến: thần bản cảnh được khoác lên ngôn ngữ triều nghi để biểu đạt sự tôn kính của cộng đồng.
Tuy nhiên, những hình ảnh này không phải bằng chứng cho thấy Chúa Bà từng là công chúa hoặc được một triều vua cụ thể sắc phong. Chúng trước hết là hệ thống biểu tượng của văn học nghi lễ.
Hành trình qua các danh thắng Ninh Bình
Một phần lớn bản văn dành để kể hành trình của Chúa Bà qua nhiều cảnh đẹp và đền phủ. Những địa danh được gọi tên nối nhau như một cuộc tuần du:
- Dục Thúy Sơn;
- sông Vân;
- Bích Động;
- Tam Cốc;
- Địch Lộng;
- Tràng An;
- Yên Khánh;
- sông Chanh;
- Cửa Càn;
- Quán Cháo;
- Đền Dâu;
- Đền Rồng;
- cùng một số tên gọi cổ hoặc chưa xác định rõ.
Hành trình ấy không nhất thiết là một tuyến đường có thể đi liên tục trên bản đồ hiện đại. Trong thơ ca nghi lễ, khoảng cách địa lý có thể được rút ngắn. Thần linh chỉ cần “thoắt” một lần là đã chuyển từ vùng núi xuống vùng sông, từ miền đồng bằng sang nơi cửa biển hoặc từ một danh thắng sang một đền phủ khác.
Qua cách tổ chức này, Chúa Bà không bị giới hạn trong một ban thờ. Bà hiện diện trên toàn bộ không gian tỉnh, từ trung tâm Dục Thúy đến các vùng ngoại vi. Bản văn vì thế có thể được hiểu như một hình thức thiêng hóa địa lý Ninh Bình.
Mối liên hệ giữa núi, sông và nữ thần
Ninh Bình là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng, núi đá vôi, sông ngòi và khu vực gần biển. Cảnh quan này tạo điều kiện cho nhiều lớp tín ngưỡng cùng tồn tại: thờ thần núi, thần sông, thủy thần, nữ thần, thành hoàng và những nhân vật có công với làng nước.
Trong bản văn, Chúa Bà không chỉ ở núi cao. Bà còn đi thuyền, qua sông, đến cửa biển, soi sáng đồng ruộng và chứng giám cho nhiều cộng đồng. Hình tượng ấy có tính tổng hợp giữa sơn thần và thủy thần, giữa Chúa miền rừng với nữ thần bảo hộ một vùng đất có mạng lưới sông nước dày đặc.
Không nên vội xác định Chúa thuộc Nhạc phủ hay Thoải phủ chỉ dựa vào cảnh vật được miêu tả. Văn chầu thường kết hợp nhiều biểu tượng, nhất là khi ca ngợi một vị thần có phạm vi bảo hộ rộng.
Lời cầu cho cộng đồng
Phần cuối bản văn chuyển từ miêu tả phong cảnh sang lời cầu nguyện. Người hát mong ánh sáng của Chúa soi tới quốc gia, dân chúng, cây cỏ, sông núi và các cộng đồng cư dân.
Trong ngôn ngữ tín ngưỡng, “soi” không đơn thuần là chiếu ánh sáng vật chất. Đó là biểu tượng của sự chứng giám, dẫn đường, bảo hộ và đem lại trật tự hài hòa. Bản văn hướng tới mong ước quốc thái dân an, âm dương thuận hòa và đời sống cộng đồng yên ổn.
Những mong cầu này cần được hiểu trong phạm vi niềm tin dân gian. Bản văn không phải lời cam kết rằng chỉ cần hát hoặc dâng lễ là mọi khó khăn sẽ được giải quyết. Giá trị chính của lời cầu nằm ở sự an định tinh thần, lòng hướng thiện và ý thức cộng đồng.
Giải nghĩa một số địa danh trong bản văn
Thúy Sơn và Vân Giang
Thúy Sơn là cách gọi rút gọn của Dục Thúy Sơn, tức núi Non Nước. Vân Giang hoặc Vân Sàng là tên gắn với dòng sông và vùng đất quanh trung tâm Ninh Bình xưa.
Khi hai địa danh này xuất hiện cạnh nhau, bản văn gợi lại cảnh núi soi bóng xuống sông. Đây là hình ảnh tiêu biểu của Ninh Bình, đồng thời thể hiện quan niệm sơn thủy tương giao: núi là phần vững chãi, nước là phần lưu chuyển, cùng tạo nên một không gian hài hòa.
Tam Cốc và Bích Động
Tam Cốc – Bích Động là vùng danh thắng nổi tiếng với núi đá, sông nước, hang động và các công trình tín ngưỡng. Trong lời văn, Bích Động thường được miêu tả như cảnh sơn trang hoặc động tiên, phù hợp với mỹ cảm của văn chầu.
Việc nhắc đến Tam Cốc và Bích Động không nhất thiết chứng minh nơi đây từng có ban thờ Chúa Bà Bản tỉnh. Các địa danh có thể được đưa vào vì vẻ đẹp, tính biểu tượng và vị trí quan trọng trong hình dung về non nước Ninh Bình.
Địch Lộng
Địch Lộng là một danh thắng có chùa và động đá ở vùng Gia Viễn cũ. Tên gọi thường được hiểu là tiếng sáo thổi trong hang hoặc âm thanh của gió vọng qua các khe đá.
Trong bản văn, Địch Lộng xuất hiện như một nơi Chúa Bà rong chơi. Cách diễn đạt này tiếp tục mô típ thần tiên du ngoạn danh lam, biến những hang động tự nhiên thành cảnh giới thanh tịnh và huyền ảo.
Tràng An
Tràng An là vùng cảnh quan và di sản quan trọng của Ninh Bình. Trong bản văn, tên Tràng An vừa chỉ một không gian cụ thể, vừa gợi chiều sâu lịch sử của vùng cố đô Hoa Lư.
Khi Chúa Bà “vui thú cảnh Tràng An”, lời văn đặt hình tượng thần linh trong một cảnh giới gồm núi đá, thung nước, hang xuyên thủy và dấu tích cư trú lâu đời. Tràng An trở thành biểu tượng cô đọng của quê hương Ninh Bình.
Cửa Càn
Cửa Càn là tên gọi gắn với vùng cửa biển phía nam Ninh Bình trong lịch sử. Địa danh này cho thấy phạm vi không gian của bản văn quanh núi Non Nước và mở rộng về phía biển.
Từ trung tâm núi sông đến cửa biển, Chúa Bà được hình dung như vị có thể tuần du khắp vùng. Điều này phù hợp với danh xưng Bản tỉnh hơn là một vị thần chỉ cai quản một ngôi đền hoặc một làng nhỏ.
Yên Khánh và sông Chanh
Yên Khánh là vùng đồng bằng phía đông nam Ninh Bình, có hệ thống sông ngòi, ruộng đồng và dấu ấn của quá trình khai khẩn. Sông Chanh là một tên địa lý xuất hiện trong ký ức địa phương và văn bản truyền tụng.
Việc nhắc đến Yên Khánh giúp bản văn mở rộng từ cảnh núi đá sang miền đồng bằng nông nghiệp. Hình tượng Chúa Bà qua đó gần với đời sống của cư dân trồng lúa, đi thuyền, làm nghề sông nước và khai phá đất đai.
Quán Cháo và Đền Dâu
Quán Cháo và Đền Dâu là hai tên gọi thường đi liền trong một số truyền thống tín ngưỡng vùng Ninh Bình – Thanh Hóa. Tuy nhiên, khi giải thích cần kiểm tra kỹ từng địa điểm, bởi cùng một tên dân gian có thể được dùng tại nhiều nơi.
Trong bản văn, hai địa danh có thể đóng vai trò những trạm dừng linh thiêng trên hành trình của Chúa. Người đọc không nên dựa vào vài câu thơ để xác định quan hệ thờ phụng giữa Chúa Bà với các di tích này.
Đền Rồng, Phủ Võng và Nam Thành
Một số tên gọi trong bản chép hiện nay chưa thật rõ về vị trí hoặc cách viết. “Đền Rồng” có thể chỉ một di tích địa phương gắn với hình tượng rồng hoặc địa thế núi đá. “Phủ Võng” và “Nam Thành” cũng có khả năng là tên cổ, tên dân gian hoặc từ đã bị sai lệch trong quá trình sao chép.
Với những địa danh chưa xác định chắc chắn, nên giữ nguyên dưới dạng tư liệu cần khảo cứu. Không nên tự gán chúng cho một đền phủ đang hoạt động chỉ vì tên gọi gần giống.
Bản văn biên soạn tham khảo về Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình
Phần dưới đây là bản biên soạn mới, dựa trên cảnh quan, địa danh và tinh thần tôn kính thần linh bản địa của Ninh Bình. Đây không phải bản chép cổ, không thay thế bản truyền dạy của các cung văn và không được dùng làm căn cứ xác định thần tích.
Dâng hương
Nhất tâm dâng nén hương trầm,
Kính miền sơn thủy, kính phần anh linh.
Non cao soi bóng sông xanh,
Một vùng cố quận Ninh Bình ngàn năm.
Trước đàn đèn nến trang nghiêm,
Lời văn kính tiến cửa thiêng Chúa Bà.
Chẳng cầu điều viển vông xa,
Chỉ mong tâm sáng, cửa nhà thuận yên.
Ca ngợi cảnh Non Nước
Dục Thúy dáng núi thanh thanh,
Sông Vân lững lờ ôm vành đá xưa.
Mây chiều phủ ngọn lưa thưa,
Gió đưa tiếng lá như vừa nhạc tiên.
Vách non lưu dấu bút nghiên,
Người xưa đề vịnh nối miền văn chương.
Chùa soi bóng nước ven đường,
Chuông ngân nhắc khách vô thường thế gian.
Phía xa sóng vỗ sông Đáy,
Trăng lên nhuộm trắng bãi bồi ven đê.
Người qua dừng bước hướng về,
Giữ lòng thanh tịnh, nhớ quê, nhớ nguồn.
Chúa du miền danh thắng
Khi vui Chúa ngự Tràng An,
Thuyền theo dòng biếc xuyên ngàn động sâu.
Núi liền núi, nước liền nhau,
Mây in đá dựng một màu cổ sơ.
Lúc sang Tam Cốc nên thơ,
Lúa xanh trải thảm đôi bờ sông Ngô.
Bích Động mái ngói rêu mờ,
Tiếng chim gọi bạn giữa bờ núi xanh.
Địch Lộng gió thổi trong lành,
Âm vang hang đá hóa thành tiếng tiêu.
Gia Viễn sớm nắng trong veo,
Bóng người dâng lễ qua đèo, qua sông.
Khi về Yên Khánh đồng trong,
Sông Chanh đưa nước xuôi dòng phù sa.
Làng quê khói bếp chan hòa,
Trẻ vui sân ngõ, người già thảnh thơi.
Cửa Càn sóng bạc ngoài khơi,
Thuyền về neo bến, chim trời gọi nhau.
Kim Sơn đất mới bền lâu,
Công người mở cõi thấm sâu ruộng đồng.
Chúa chứng miền quê
Chúa không xa cách dân lành,
Chứng người giữ nghĩa, giữ thành, giữ tâm.
Chứng công cha mẹ âm thầm,
Chứng người lao động quanh năm chuyên cần.
Không vì lễ lớn lễ phần,
Mà quên nhân nghĩa, tình thân xóm làng.
Lòng ngay quý tựa nén vàng,
Một lời hòa thuận hơn ngàn lời cao.
Người đi sông nước gian lao,
Xin thêm tỉnh táo, cùng nhau giữ mình.
Người làm ruộng sớm bình minh,
Quý công đất mẹ, giữ gìn bờ đê.
Người buôn bán khắp chợ quê,
Lấy điều chân thật làm bề dài lâu.
Trẻ thơ chăm học mai sau,
Biết yêu lịch sử, biết câu nghĩa tình.
Ca ngợi sơn hà
Ninh Bình núi dựng như thành,
Hoa Lư còn dấu kinh thành thuở xưa.
Đền vua nép bóng cây thưa,
Chuyện đời Đinh – Lê gió đưa vọng về.
Cố đô một dải sơn khê,
Bao phen gìn giữ lời thề nước non.
Đường xưa dấu ngựa vẫn còn,
Mà nay phố mới nối tròn gần xa.
Núi rừng xanh tựa gấm hoa,
Sông ngòi như dải lụa là uốn quanh.
Cảnh quê đâu chỉ nổi danh,
Còn là ký ức kết thành quê hương.
Cầu cho cộng đồng
Cúi xin Chúa chứng lòng thành,
Cho người biết sống thiện lành với nhau.
Nhà nhà trước, xóm làng sau,
Trên nhường dưới kính, bền lâu nghĩa tình.
Cho người biết quý hòa bình,
Không vì lợi nhỏ mà khinh đạo thường.
Cho người gìn giữ quê hương,
Không làm ô nhiễm núi rừng, dòng sông.
Cho di tích khỏi long đong,
Mái đình, cửa phủ, chuông đồng bền lâu.
Cho người tiếp nối người sau,
Hiểu điều truyền thống, tránh câu mê lầm.
Lễ nghi cốt ở thành tâm,
Không mua may rủi, không tầm lợi danh.
Học xưa để sống thiện lành,
Giữ văn hóa Việt trong hành xử nay.
Hồi văn
Văn dâng một khúc quê nhà,
Kính Chúa bản tỉnh, kính hòa núi sông.
Hương trầm quyện giữa hư không,
Lời ca xin gửi vào lòng người nghe.
Đàn ngưng, trăng vẫn bên hè,
Sông Vân còn chảy, núi che bóng chiều.
Nguyện gìn một dải quê yêu,
Người an, cảnh đẹp, bao điều nghĩa nhân.
Giá trị văn hóa của bản văn
Lưu giữ một bản đồ địa danh bằng thơ
Giá trị dễ nhận thấy nhất của bản văn là tập hợp nhiều địa danh Ninh Bình trong một mạch lời ca. Dù một số tên còn cần khảo cứu, toàn bài cho thấy cách người xưa hoặc cộng đồng sáng tác hình dung về phạm vi của vùng đất.
Bản đồ ấy không được đo bằng khoảng cách hay ranh giới hành chính. Nó được tạo bởi ký ức, hành hương, cảnh đẹp và quan hệ giữa các nơi thờ tự. Một địa danh được đưa vào bài hát có thể tồn tại lâu trong trí nhớ ngay cả khi đường sá, làng xã và đơn vị hành chính đã thay đổi.
Thể hiện tình cảm với quê hương
Đằng sau lớp ngôn ngữ thần tiên là niềm tự hào về núi sông Ninh Bình. Người sáng tác nhìn quê hương như một bức tranh thủy mặc, nơi núi đá, hang động, sông nước, rừng cây và làng xóm hòa thành cảnh giới đẹp đẽ.
Chúa Bà trở thành người dẫn đường đưa người nghe đi qua cảnh quan ấy. Nhờ hình tượng thần linh, tình yêu quê hương được nâng lên thành cảm xúc thiêng liêng.
Phản ánh sự giao thoa tín ngưỡng
Bản văn có ngôn ngữ của thờ Mẫu, hình ảnh thần tiên của Đạo giáo, không gian chùa Phật giáo và nhiều địa danh gắn với lịch sử địa phương. Sự kết hợp này phản ánh đặc điểm dung hợp của đời sống tín ngưỡng Việt Nam.
Dung hợp không có nghĩa là mọi tôn giáo và tín ngưỡng đều giống nhau. Mỗi truyền thống vẫn có giáo lý, nghi lễ và đối tượng thờ phụng riêng. Tuy nhiên, trong đời sống cộng đồng, các không gian và biểu tượng có thể gặp gỡ, tạo nên những hình thức văn hóa đa lớp.
Gợi mở hướng nghiên cứu địa phương
Bản văn còn đặt ra nhiều câu hỏi cần tiếp tục tìm hiểu:
- Chúa Bà được thờ cụ thể tại ban nào?
- Có bản viết tay hoặc bản Nôm nào còn lưu giữ không?
- Những cung văn cao tuổi ở Ninh Bình hát bài này theo làn điệu nào?
- Các địa danh khó hiểu trong bản chép tương ứng với địa điểm nào?
- Bài văn được sáng tác trước hay sau khi hình thành địa giới tỉnh Ninh Bình hiện đại?
- Danh xưng Chúa Bà Bản tỉnh có từng xuất hiện trong sắc phong, văn tế hoặc thần tích địa phương không?
Việc trả lời các câu hỏi này cần khảo sát thực địa, phỏng vấn cộng đồng thực hành và tiếp cận tư liệu lưu trữ. Những nội dung trên mạng chỉ nên được xem là điểm khởi đầu.
Bản văn chầu Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình là một văn bản truyền tụng giàu hình ảnh về non nước, đền chùa và ký ức địa phương. Qua lời ca, Chúa Bà hiện lên như một nữ thần bảo hộ vùng đất, tuần du giữa Dục Thúy Sơn, sông Vân, Tam Cốc, Bích Động, Tràng An và nhiều miền quê khác của Ninh Bình.
Tư liệu hiện có chưa đủ để xác định thân thế lịch sử, niên đại, tác giả hoặc vị trí chính thức của Chúa Bà trong điện thần Tứ phủ. Vì vậy, bản văn cần được tiếp cận như một sản phẩm văn hóa tín ngưỡng đang lưu truyền, không phải thần tích đã được kiểm chứng.
Giá trị sâu sắc của bài văn nằm ở tình yêu quê hương, khả năng gìn giữ địa danh và cách cộng đồng thiêng hóa cảnh quan nơi mình sinh sống. Bảo tồn bản văn là sao chép lại lời hát, đồng thời là khảo cứu dị bản, tôn trọng người thực hành, nhận diện đúng di tích và loại bỏ những diễn giải mê tín, vụ lợi.
Khi được nhìn nhận thận trọng và nhân văn, bản văn Chúa Bà Bản tỉnh Ninh Bình có thể trở thành một tư liệu gợi mở về sự giao thoa giữa hát văn, tín ngưỡng thờ Mẫu và văn hóa sơn thủy của vùng đất cố đô.