Tên và hình ảnh 54 dân tộc Việt Nam

Khám phá tên gọi, dân số, địa bàn cư trú và nét văn hóa tiêu biểu của 54 dân tộc Việt Nam qua thông tin kiểm chứng, cập nhật.

Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống. Từ đồng bằng, trung du, miền núi đến cao nguyên, ven biển và hải đảo, mỗi cộng đồng đều có lịch sử cư trú, ngôn ngữ, tập quán và di sản văn hóa riêng, đồng thời cùng góp phần tạo nên bản sắc chung của dân tộc Việt Nam.

Số liệu dân số trong bài được tính theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Đây là mốc số liệu thống nhất trên toàn quốc, vì vậy không nên hiểu là quy mô dân số ước tính tại thời điểm hiện nay. Địa danh cư trú được trình bày theo đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện hành; một số tên tỉnh trước sắp xếp vẫn được ghi chú để độc giả dễ nhận biết vùng văn hóa truyền thống.

Những đặc điểm được giới thiệu dưới đây mang tính khái quát. Trong cùng một dân tộc có thể tồn tại nhiều nhóm địa phương với sự khác nhau về trang phục, tiếng nói, nghi lễ, nhà ở và sinh kế. Các phong tục cũng không đứng yên mà luôn biến đổi theo điều kiện kinh tế, giáo dục, pháp luật và quá trình giao lưu giữa các cộng đồng.

Tên, dân số và nét văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam

1. Dân tộc Kinh

Dân số dân tộc Kinh: 82.085.984 người – chiếm hơn 85% dân số Việt Nam

Địa phương sinh sống: Dân tộc Kinh là nhóm chiếm đại đa số ở nước Việt Nam. Người Kinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Ngôn ngữ chính sử dụng giao tiếp là Tiếng Việt và họ có phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà.

Nông nghiệp trồng lúa nước được xem là hoạt động sản xuất đặc trưng của dân tộc này. Một số tín ngưỡng đặc trưng của người Kinh như thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu,.. Trong đó người dân có thể lựa chọn theo các tôn giáo khác nhau như đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đạo Tin Lành,..

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Kinh

2. Dân tộc Tày

Dân số dân tộc Tày: 1.845.492 người

Địa phương sinh sống: Dân tộc Tày thường sinh sống ở vùng trung du miền núi phía Bắc (nhiều nhất ở Bản Hồ và Thanh Phú)

Ngôn ngữ: Tiếng Tày – Thái (hệ Thái – Ka Ðai). Chữ viết của người dân tộc Tày dựa trên bảng chữ cái La Tinh từ 1960, khá giống chữ viết của người Việt xưa.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Tày

3. Dân tộc Thái

Dân số dân tộc Thái: 1.820.950 người.

Địa phương sinh sống: Người dân tộc Thái thường sinh sống ở các tỉnh Sơn La, Nghệ An, Lai Châu, Hòa Bình.

Ngôn ngữ: Tiếng Tày – Thái (hệ Thái – Ka Ðai).

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Thái

4. Dân tộc Mường

Dân số dân tộc Mường: 1.452.059 người

Địa phương sinh sống: Người Mường tập trung đông ở các tỉnh Miền Bắc. Đặc biệt là tỉnh Hòa Bình và một số huyện miền núi tỉnh Thanh Hoá.

Ngôn ngữ: Việt – Mường (hệ Nam Á)

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Mường

5. Dân tộc Khmer

Dân số dân tộc Khmer: 1.319.652 người

Dân tộc Khmer nằm trong nhóm 21 dân tộc nói ngôn ngữ Môn Khơ Me. Khu vực sinh sống sẽ nằm rải rác từ Tây Bắc, miền Trung Tây Nguyên cho đến một số nơi ở Nam Bộ.

Văn hóa của người Khmer cũng rất đa dạng với nghề canh tác chính là làm nương rẫy, họ sở hữu nhiều lễ hội và nét văn hóa cực kỳ độc đáo. Một số lễ hội nổi tiếng của người Khmer có thể kể đến như là lễ cúng Trăng, lễ cúng ông bà, ngày Tết Chôl Thnăm Thmây, ngày Vônabat,..

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Khmer

6. Dân tộc Hmong (H’mông)

Dân số dân tộc Hmong: 1.393.547 người.

Địa phương sinh sống: Người H’Mông tập trung đông đảo ở các tỉnh vùng cao như Tuyên Quang, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, đặc biệt là Lai Châu.

Ngôn ngữ: Mông (Mèo – Dao)

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Hmong (H’mông)

7. Dân tộc Nùng

Dân số dân tộc Nùng: 1.083.298 người.

Người Nùng sinh sống chính bằng cách trồng trọt các loại lương thực chính như là ngô, lúa được trồng ở các sườn đồi. Bên cạnh đó họ cũng còn rất nhiều làn nghề thủ công mỹ nghệ liên quan đến đồ gốm, đan lát, rèn, dệt, nghề mộc,..

Đối với người dân tộc Nùng thì dù có là anh chị em họ hàng con em hay con chị thì sẽ đều dựa vào độ tuổi cao thấp để xác định vị trí xưng hô anh chị. Mọi người không hay gọi thẳng tên của người ông, người ba trong nhà mà sẽ gọi theo tên đứa con đầu, cháu đầu của họ.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Nùng

8. Dân tộc Dao

Dân số dân tộc Dao: 891.151 người

Dân tộc Dao cũng được chia nhỏ thành từng nhóm khác nhau khá đa dạng. Ví dụ như: Dao Đỏ, Dao Lô Gang, Dao Quần Trắng,.. Mỗi nhóm thì lại sống ở các khu vực khác nhau và có những trang phục, văn hóa rất riêng.

Cùng chung sống trên đất nước Việt Nam cũng góp phần lớn đến công cuộc giúp cho bức tranh bản sắc văn hóa 54 dân tộc anh em trở nên đa dạng, phong phú hơn đó chính là dân tộc Dao. Người Dao thường sinh sống đông ở những tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc. Với nghề nương rẫy, thổ canh làm ruộng là chính, những sản phẩm nông nghiệp người dân tộc Dao trồng trọt thường là lúa, ngô, các loại cây rau như khoai, bầu, bí,.. Ngành nghề trồng bông để dệt vải ở một số bản làng người Dao cũng rất phổ biến. Ngoài ra các nghề rèn, thợ bạc cũng là những điểm mạnh của người Dao.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Dao

9. Dân tộc Hoa

Dân số dân tộc Hoa: 749.466 người

Người dân tộc Hoa có nét văn hóa sinh sống trong các gia đình lớn khi một gia đình có thể sẽ từ 4 – 5 đời với đông đúc đến vài chục người cùng sinh sống với nhau. Hiện nay thì các gia đình người Hoa đã dần tách ra sống thành những hộ gia đình nhỏ nhưng những họ hàng vẫn sống rất gần gũi chứ không quá xa cách.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Hoa

Thường hôn nhân của người Hoa sẽ do gia đình quyết định, họ chú trọng rất nhiều đến sự đồng đều về hoàn cảnh kinh tế cũng như địa vị xã hội trong quá trình chọn lựa gia đình kết thông gia – hay được gọi là “môn đăng hộ đối”

10. Dân tộc Gia Rai

Dân số dân tộc Gia Rai: 513.930 người

Một dân tộc sinh sống tại vùng đất Tây Nguyên mà chúng ta không thể không nhắc đến chính là Gia Rai. Nhắc đến người Gia Rai thì chúng ta cũng sẽ nghĩ ngay đến những ngôi nhà Rông – nó như biểu tượng của cộng đồng và văn hóa của người dân tộc này.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Gia Rai

Người dân tộc Gia Rai có rất nhiều lễ hội đặc sắc khác nhau như là lễ cầu an, lễ cầu mưa, lễ cúng nhà Rông mới, lễ bỏ mã,..

11. Dân tộc Ê Đê

Dân số dân tộc Ê Đê: 398.671 người

Người dân tộc Ê Đê sinh sống chủ yếu đông đảo ở những vùng cao nguyên như là Đak Lak, Dak Nông,.. tại đây người dân sẽ sinh sống theo buôn làng. Họ sử dụng ngành nghề chính là canh tác trồng nương rẫy.

Bến nước được biết đến như là bản sắc của người Ê Đê, nó được xem là nhu cầu cơ bản và là nơi mà người dân cần tìm kiếm và có được trước khi quyết định lập buôn sinh sống lâu dài. Người chủ của bến nước sẽ có nhiệm vụ bảo vệ lấy nguồn nước ở đây với tính gia truyền qua nhiều thế hệ, tuy nhiên tất cả đều là nữ thuộc họ mẹ (theo chế độ mẫu hệ).

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Ê Đê

12. Dân tộc Ba Na

Dân số dân tộc Ba Na: 286.910 người

Người dân tộc Ba Na thường có thói quen sinh sống gần những khu vực gần với núi rừng thiên nhiên sông suối. Ngoài làm ruộng nước thì người Ba Na còn làm nhiều ngành nghề thủ công như là đan lát, dệt, gốm, rèn,. Trong đó nổi bật nhất chính là dệt thổ cẩm. Tất cả sản phẩm dệt thổ cẩm đều được thực hiện bằng tay với họa tiết tinh tế, có nhiều gam màu tạo ấn tượng như đỏ, đen, trắng,.. Mỗi sản phẩm đều phản ánh quan niệm tâm linh vũ trụ, triết lý âm dương trời đất.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Ba Na

Ở mỗi ngôi nhà người Ba Na đều sẽ có trồng một cây cúng thường nằm trước nhà đối diện với phía cổng chính. Mỗi dịp đến lễ hội, thờ cúng, đám cưới, đám tang,.. trong nhà đều sẽ thực hiện trước các cây cúng này nhằm giao tiếp với tổ tiên, thần linh

13. Dân tộc Xơ Đăng

Dân số dân tộc Xơ Đăng: 212.277 người

Người Xơ Đăng sử dụng ngôn ngữ là tiếng Xơ thuộc loại ngôn ngữ Môn – Khơ me. Họ là những người sinh sống lâu năm tại khu vực Trường Sơn, Tây Nguyên và những khu vực lân cận với Quảng Nam, Quảng Ngãi. Người dân Xơ Đăng chủ yếu làm rẫy trồng lúa, ngoài ra còn có trồng trọt một số loại ngô, sắn, chuối, mía, thuốc lá,.. Người Xơ Đăng cũng có tín ngưỡng thờ Đa Thần, họ có rất nhiều nghi thức cúng bái để giao tiếp với các lực lượng siêu nhiên nhằm mục đích cầu bình an, cầu mùa màng và mong tránh khỏi các xui xẻo cho cộng đồng người dân.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Xơ Đăng

Người Xơ Đăng gắn liền với rất nhiều làn điệu dân ca, điệu hát và những điệu múa cùng với những loại nhạc cụ khác nhau được sử dụng trong các dịp lễ hội. Kho tàng truyện cổ của người Xơ Đăng cũng rất đa dạng và độc đáo bạn sẽ có dịp nghe các già làng kể chuyện khi được đến khu vực người Xơ Đăng sinh sống.

14. Dân tộc Sán Chay

Dân số dân tộc Sán Chay: 201.398 người

Nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống sản xuất của người dân tộc Sán Chay. Họ thường sinh sống tập trung thành làng để tạo tính đoàn kết gắn bó với nhau. Người dân tộc Sán Chay chắc chắn quen thuộc điệu Múa Tắc Xình, một trong những di sản văn hóa cần được bảo tồn. Ngoài ra, còn có lễ hội Cầu Mùa khá độc đáo của người dân tộc Tắc Xình.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Sán Chay

Đối với người dân tộc Sán Chay sẽ được chia thành nhiều họ khác nhau và với mỗi họ sẽ có một điểm khác biệt nhất định, họ sẽ có một thần linh thờ cúng nhất định. Điểm độc đáo trong hôn nhân của người Sán Chay đó là tuy là nhà trai sẽ tổ chức đám cưới cho con nhưng sau khi kết hôn thì cô dâu sẽ trở về sinh sống với ba mẹ đẻ và chỉ thỉnh thoảng mới về lại nhà chồng. Đến khi có thai thì lúc này cả hai mới thật sự chuyển về nhà chồng để ở hẳn

15. Dân tộc Cờ Ho

Dân số dân tộc Cờ Ho: 200.800 người

Người dân tộc Cờ Ho hay còn biết đến là Cơ Ho, K’ho,.. là người dân tộc sinh sống chủ yếu ở khu vực phía Nam Tây Nguyên nước ta. Họ thường sống ở các vùng núi cao, tách biệt nhiều với các dân tộc khác nên gần như vẫn giữ được rất nhiều nét đẹp văn hóa riêng của dân tộc mình. Người Cờ Ho chủ yếu sản xuất nông nghiệp và lâm thổ sản là chính. Là dân tộc cũng có tín ngưỡng Đa Thần khi cũng tin tưởng rất nhiều vào sự tồn tại của những năng lực siêu nhiên từ thần Mặt Trời, thần Núi, thần Mặt Trăng, thần Đất,.. vào những dịp sự kiện quan trọng trong buôn làng thì người dân sẽ tổ chức các lễ cúng bái để nhằm liên hệ với thần linh nhờ giúp đỡ.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Cờ Ho

16. Dân tộc Sán Dìu

Dân số dân tộc Sán Dìu: 183.004 người

Người Sán Dìu sử dụng ngôn ngữ Sán Dìu thuộc nhóm hệ Hán và hiện ngôn ngữ này vẫn còn được gìn giữ, sử dụng trong giao tiếp sinh hoạt ở các gia đình nhiều thế hệ sinh sống, các thầy thuốc, thầy cúng,.. Tuy là dân tộc ít người có nhiều họ khác nhau nhưng khi người dân tộc Sán Dìu gặp và nhận ra được nhau thì sẽ sử dụng câu chào nhau “San Déo loỏng si” – ý chỉ người Sán Dìu ít ỏi nên cần yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Sán Dìu

Vào những dịp thông thường thì người nam giới Sán Dìu sẽ mặc quần đùi cộc màu tối hoặc quần dài màu tối có cạp chun, 2 túi. Áo được may theo kiểu bà ba mặc dài ngang đùi có 2 túi. Còn nữ giới sẽ luôn mặc 2 áo theo cặp với cáo trong luôn sáng màu hơn áo ngoài, phía áo ngoài sẽ may kiểu 3 vạt, dài quá gối và có đeo yếm, đội khăn đen hình mỏ quạ

17. Dân tộc Chăm

Dân số dân tộc Chăm: 178.948 người

Dân tộc Chăm nằm trong danh sách 5 dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đào, bao gồm: Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Raglai và người Chăm. Họ sống chủ yếu ở Tây Nguyên với nét văn hóa truyền thống nổi bật nhất là mẫu hệ.

Người Chăm sinh sống tập trung chủ yếu ở những khu vực duyên hải miền Trung nước ta. Nổi bật là ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Người Chăm sử dụng chữ quốc ngữ là kiểu chữ Phạn Ả Rập đã du nhập vào Chiêm Thành từ những năm ở thế kỷ thứ II nhưng đã có một số thay đổi nhất định. Họ sinh sống chủ yếu nhờ những ngành nghề liên quan đến chăn nuôi, làm gốm và dệt.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Chăm

18. Dân tộc Hrê

Dân số dân tộc Hrê: 149.460 người

Người dân tộc Hrê được biết đến với nhiều tên gọi khác như là Chom, Chăm rê, Kre,.. họ sinh sống chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Ngôn ngữ người Hrê sử dụng thuộc nhóm ngôn ngữ của Môn – Khmer, khá gần với ngôn ngữ của dân tộc Ba Na và Xơ Đăng. Người Hrê sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, nuôi heo và các loại gia cầm. Họ cũng làm nhiều nghề thủ công đan lát, dệt thổ cẩm và rèn.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Hrê

Người Hrê cũng rất yêu thích văn hóa nghệ thuật khi từ xa xưa họ đã biết sáng tác thơ ca, mê đàn hát và sở hữu rất nhiều loại nhạc cụ độc đáo có thể kể đến như là đàn Brook, sáo ling la, ống tiêu la lía, ching ka la, khèn ra vai,.. 2 làn điệu dân ca quen thuộc và nổi tiếng của người dân tộc Hrê đó là Ka choi và Ka lêu

19. Dân tộc Raglai

Dân số dân tộc Raglai: 146.613 người

Người Raglai hay còn gọi với nhiều tên khác như là Ra Glai, Ra Giây, Rang ngok,.. được biết là một nhánh của người dân tộc Chăm. Họ sinh sống chủ yếu ở khu vực tỉnh Ninh Thuận và Khánh Sơn, Khánh Hòa nước ta. Ngôn ngữ sử dụng của người Raglai là thuộc hệ ngôn ngữ chi Maylay – Polynesia của hệ Nam Đảo.

Người Raglai quan niệm khu vực thung lũng là lối đi của ma quỷ, sống lưng của những đồi núi là nơi mà các vị thần làm đường đi lại, do đó chit có lưng chừng núi mới là nơi mà con người có thể ở. Họ sẽ sinh sống ở những khu đất cao, bằng phẳng, gần các sông ngòi để có được nguồn nước sinh hoạt cũng như dùng cho các hoạt động sản xuất. Người dân tộc Raglai sẽ sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và ngô, khoai, củ quả. Những ngành nghề làm gốm, đan lát, rèn,.. vẫn có tuy nhiên còn khá thô sơ, chỉ để đảm bảo phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Raglai

20. Dân tộc Mnông

Dân số dân tộc Mnông: 127.334 người

Đây được biết là dân tộc đã sinh sống lâu đời tại miền Trung Tây Nguyên Việt Nam. Người Mnông chủ yếu sống bằng nghề trồng nương rẫy với phương pháp đao canh hỏa chủng. Là phương pháp phát quang, đốt và chọc lỗ để tra hạt trồng cây. Lúa được trồng theo phương pháp đao canh thủy nậu. Là hình thức gieo hạt trồng trên đầm lầy và sử dụng trâu cày để nhão đất chứ không cấy mạ.

Bên cạnh những ngành nghề đan lát, rèn nông cụ, làm gốm thì nghề săn bắn – thuần dưỡng voi rừng của người dân tộc Mnông ở khu vực Buôn Đôn cực kỳ nổi tiếng. Tuy nhiên ngày nay số lượng voi săn bắn đã được giảm đi nhiều.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Mnông

21. Dân tộc X’Tiêng

Dân số dân tộc X’Tiêng: 100.752 người

Người dân tộc X’Tiêng đã cứ trú lâu đời ở khu vực tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng nước ta, và hiện nay đã và đang sinh sống xen kẽ với rất nhiều dân tộc khác như là Kinh, Chăm, Mnông, Khmer ở các tỉnh phía Nam. Tùy theo khu vực sinh sống mà người X’Tiêng sẽ có thể làm ruộng nước hoặc làm nương rẫy để sinh sống.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc X’Tiêng

Trong phong tục hôn nhân thì người X’Tiêng sẽ kết hôn khá sớm, con trai thường tầm từ 19 đến 20 tuổi còn nữ sẽ từ 15 – 17 tuổi. Tùy thuộc từng khu vực người dân tộc X’Tiêng khác nhau mà sẽ có các tập tục sống tại nhà gái hay nhà trai. Tuy nhiên họ kết hôn khác dòng họ.

22. Dân tộc Bru Vân Kiều

Dân số dân tộc Bru Vân Kiều: 94.598 người

Đây là dân tộc sử dụng ngôn ngữ của người Bru, thuộc ngôn ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn – Khmer. Bru Vân Kiều được biết đến là 1 trong số các dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ban đầu người Bru Vân Kiều sinh sống tại vùng trung Lào nhưng sau nhiều biến động của lịch sử nên hiện nay có một số đông sinh sống ở những khu vực miền núi các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, một số đi đến tây bắc sang Thái Lan.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Bru Vân Kiều

Trong hôn nhân thì người Bru Vân Kiều sẽ chịu nhiều quyết định vởi người cậu trong nhà. Khi đám cưới người Bru Vân Kiều có tập tục nhà trai sẽ trao lại cho nhà gái 1 thanh kiếm. Sau khi rước dâu về sẽ phải trải qua rất nhiều nghi thức phức tạp khác nhau.

23. Dân tộc Thổ

Dân số dân tộc Thổ: 91.430 người

Đồng bào dân tộc Thổ thuộc nhóm dân tộc Việt – Mường thường cư trú nhiều ở khu vực phía tây Nghệ An. Ngôn ngữ của người Thổ thuộc hệ ngôn ngữ chi Việt trong hệ Nam Á. Tùy theo từng nhóm dân tộc Thổ khác nhau mà sẽ có phần ngôn ngữ, ngữ âm có đôi chút khác biệt.

Người Thổ sẽ sống bằng nghề làm rẫy, trồng lúa, trồng cây lá gai là chính. Trong đó lá gai khi thu hoạchh có thể dùng để đan lát thành nhiều loại vật liệu sử dụng như là lưới bắt cá, lưới săn thú, võng, túi đeo.. Trước kia họ có ngành nghề dệt vải nhưng sau do điều kiện canh tác và có giao lưu với nhiều nền văn hóa của các dân tộc khác nên đã ngày càng mai một dần đi.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Thổ

24. Dân tộc Khơ Mú

Dân số dân tộc Khơ Mú: 90.612 người

Người Khơ Mú hay còn biết đến là người Xá Cẩu, Tày Hạy, Tềnh, Mứn Xen,.. Họ sinh sống nhiều tại khu vực các tỉnh Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Yên Bái,.. Người Khơ Mú sống bằng nghề nương rẫy là chính, trong đó các loại cây trồng phổ biến là lúa, ngô, sắn, khoai,.. Họ cũng có nuôi các gia súc và gia cầm tuy nhiên chỉ để phục vụ những dịp lễ lộc hay tiếp khách.

Họ mà người Khơ Mú sử dụng sẽ thường có liên quan đến tên của các loài thú rừng, chim hay một loại cây nào đó vì họ xem đây như là tổ tiên ban đầu của mình. Và mỗi dòng họ lại có một huyền thoại để kể về lai lịch tổ tiên riêng, rất đặc sắc.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Khơ Mú

25. Dân tộc Cơ Tu

Dân số dân tộc Cơ Tu: 74.173 người

Người Cơ Tu thường sinh sống bằng việc trồng cây lương thực và thu hái lâm thổ sản và chỉ có duy nhất 1 mùa làm rẫy trong năm, ngoài ra sẽ còn có các hoạt động kinh tế khác như dệt, đan lát, đánh bắt cá, săn bắn, trao đổi hàng hóa theo dạng vật đổi vật. Hiện nay khi đã có sự phát triển của du lịch thì một số ngành nghề liên quan đến bán các sản phẩm địa phương và trình diễn múa cồng chiêng trở nên nổi bật hơn.

Trong năm thì người dân tộc Cơ Tu sẽ có rất nhiều lễ hội lớn như là lễ mừng lúa mới, lễ đâm trâu, lễ cúng đất, lễ kết nghĩa.. Họ sẽ sử dụng các loại nhạc cụ để nhảy các điệu múa truyền thống mang tên Tungtung Yaya.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Cơ Tu

26. Dân tộc Giáy

Dân số dân tộc Giáy: 67.858 người

Dân tộc Giáy chung nhóm với những dân tộc Tày, Thái, Lào, Lự, Bố Y, Sán Chay. Họ đều sống chủ yếu ở các khu vực Tây Bắc nước ta. Văn hóa của nhóm các dân tộc này chính là sống ở nhà sàn, tận dụng địa hình vùng cao thung lũng để trồng ruộng bậc thang.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Giáy

Nếp sống văn hóa, trang phục của nhóm dân tộc Tày – Thái cũng đa dạng, mỗi dân tộc đều sẽ có phong tục thờ cúng các vị Thần khác nhau nhưng đều quan niệm chung về liên kết vũ trụ – con người – các vị thần thánh.

27. Dân tộc Giẻ Triêng

Dân số dân tộc Giẻ Triêng: 63.332 người

Đồng bào dân tộc Giẻ Triêng là một trong số 6 dân tộc đã sinh sống lâu đời tại vùng đất Kon Tum. Họ sống chủ yếu tại những khu vực núi rừng hiểm trở nên những loại vật dụng dùng để vận chuyển đồ đạc là cõng, gùi, vách, xách, kéo,.. cực kỳ thông dụng. Họ sinh sống bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy, trong đó sử dụng các nông cụ như nạo cỏ, cuốc, rìu,.. là chủ yếu chứ không nhiều máy móc. Ngoài ra người dân cũng còn nhiều hoạt động khác như là săn bắt, làm đồ thủ công, rèn,..

Người Giẻ Triêng trong tín ngưỡng vẫn rất tin tưởng vào thần linh nên có rất nhiều nghi lễ độc đáo diễn ra trong năm như là lễ mừng lúa mới, lễ mừng hôn nhân, lễ “cà răng”,.. Người dân tộc Giẻ Triêng ngoài phong tục sử dụng các loại lá, rễ và thân cây rừng để chữa bệnh thì vẫn giữ tập tục thực hiện các nghi lễ để cúng thần mỗi khi gặp các bệnh tật.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Giẻ Triêng

28. Dân tộc Tà Ôi

Dân số dân tộc Tà Ôi: 52.356 người

Người dân tộc Tà Ôi thường sinh sống chính ở khu vực trên dải Trường Sơn nước ta. Họ có nhiều tên gọi khác nhau như là dân tộc Ta uôih, Ta uốt. Trước kia dân tộc Tà Ôi sống khá cách biệt với môi trường bên ngoài và thường sống chủ yếu nhờ hái lượm, săn bắn ở khu vực rừng sâu với rất nhiều thủ tục, văn hóa lạc hậu. Tuy nhiên sau đó nghe lời kêu gọi của Đảng và Nhà Nước ta nên đã ra khỏi rừng, sống hòa nhập cộng đồng và bắt đầu thực hiện các hoạt động kinh tế xóa đói giảm nghèo.

Với từng dòng họ người Tà Ôi khác nhau mỗi nơi sẽ có những tên gọi riêng cũng như các điều kiêng kỵ nhất định. Tuy nhiên họ sống theo chế độ phụ hệ, tất cả con cái đều sẽ mang họ cha. Và chỉ có người con trai mới được hưởng gia tài để lại về sau của cha mẹ.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Tà Ôi

29. Dân tộc Mạ

Dân số dân tộc Mạ: 50.322 người

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Mạ

Người Mạ cũng tuân theo chế độ phụ hệ nhưng khi cưới thì chú rể sẽ phải sang ở nhà vợ. Đến khi nào nộp đủ phần sính lễ cho nhà gái thì mới đưa vợ về hẳn nhà mình.

Trong văn học dân gian thì người dân tộc Mạ có rất nhiều truyện cổ, huyền thoại, truyền thuyết độc đáo nổi bật nhất là những câu truyện về rừng. Người Mạ cũng có nhiều dân ca trữ tình, chúng được gọi là tam bớt.

30. Dân tộc Co

Dân số dân tộc Co: 40.442 người

Dân tộc Co cư trú chủ yếu ở huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) và huyện Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi). Người Co còn có tên gọi khác là: Cor, Col, Cùa, Trầu. Tiếng Co thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khmer.

Đồng bào người dân tộc Co sinh sống chủ yếu nhờ nghề rẫy với việc trồng trọt các loại cây lúa, ngô, sắn và quế. Đặc biệt là cây quế được người Co trồng cho năng suất và nguồn thu nhập ổn định

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Co

31. Dân tộc Chơ Ro

Dân số dân tộc Chơ Ro: 29.520 người

Dân tộc Chơ Ro đã là một trong số 4 dân tộc sinh sống lâu đời tại khu vực Đồng Nai. Ngoài ra đồng bào Chơ Ro còn sinh sống nhiều ở những khu vực như Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận,.. Nguồn sống của người Chơ Ro chủ yếu là về ruộng nước, chăn nuôi, săn bắn, đan lát,..

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Chơ Ro

Họ cũng thờ phụng rất nhiều vị thần khác nhau, vị thần tối cao trong tín ngưỡng người Chơ Ro chính là thần Yang N’du – vị thần sáng tạo nên thế giới, tiếp theo sẽ là thần Yang Koi – thần lúa, thần Tang Dah – thần nước, thần Yang Bri – thần rừng,.. Trong đó thì con số may mắn tượng trưng cho sự vẹn toàn, đủ đầy theo quan niệm của người Chơ Ro đó chính là số 7.

32. Dân tộc Xinh Mun

Dân số dân tộc Xinh Mun: 29.503 người

Đồng bào dân tộc Xinh Mun sinh sống chủ yếu ở những tỉnh Lai Châu, Sơn La thuộc miền Bắc nước ta. Bên cạnh việc trồng lúa, làm nương rẫy thì săn bắt hái lượm cũng là hoạt động quan trọng trong đời sống của người dân Xinh Mun.

Trước kia người dân Xinh Mun chủ yếu sống du canh du cư, không cố định chỗ ở tuy nhiên dần về sau đã ổn định lập làng đông đúc và quây quần chung lại với nhau. Họ có rất nhiều tập quán vẫn được giữ vững qua thời gian như là ăn trầu, uống rượu cần, nhuộm răng và ăn những loại có gia vị cay nồng.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Xinh Mun

33. Dân tộc Hà Nhì

Dân số dân tộc Hà Nhì: 25.539 người

Người Hà Nhì ở Việt Nam hiện đang cư trú chính tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu nằm giáp với biên giới của Trung Quốc. Họ sử dụng ngôn ngữ Hà Nhì thuộc nhanh ngôn ngữ Di của nhóm Lô Lô, trong tộc ngữ tộc Tạng – Miến, Hán – Tạng. Người dân tộc Hà Nhì sống bằng nghề làm ruộng với hệ thống ruộng bậc thang cực kỳ nổi bật. So với những dân tộc khác thì người dân tộc Hà Nhì đã có nhận thức và trình độ học vấn tốt hơn.

Người dân tộc Hà Nhì chia thành rất nhiều họ khác nhau, và tên sẽ được đặt theo tên của người cha. Phần tên đệm được đặt theo tên của con vật ứng theo ngày sinh. Trước khi kết hôn thì nam nữ sẽ có thể tìm hiểu nhau, hẹn hò và hát giao duyên, đến khi ngủ thử với nhau thấy hợp thì phía nhà trai sẽ mang gạo, thịt, gà lợn sang hỏi cưới. Tùy khu vực người Hà Nhì mà sẽ có ở rể hoặc không.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Hà Nhì

34. Dân tộc Chu Ru

Dân số dân tộc Chu Ru: 23.242 người

Người Chu Ru hay còn biết đến là dân tộc Chơ Ru, Choru, Kru,.. là dân tộc sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng. Họ sinh sống theo từng làng và có một người đàn ông cao tuổi đứng đầu để thực hiện các nghi lễ. Trong cộng đồng của người dân tộc Chu Ru cũng được phân chia thành nhiều nhóm khác nhau trong đó ngoài chủ làng, già làng, thầy cúng và bà đỡ để phụ trách nhiều nhiệm vụ khác nhau thì hầu hết người dân sẽ được phân chia rõ thành 2 tầng lớp giàu và nghèo. Trong đó cách phân biệt sẽ là dựa trên các đồ vật mà họ mang trên người như là ngà voi, chiêng, sừng tê giác, trống, ché,.. Sở dĩ có sự giàu nghèo này chủ yếu dựa trên sức lao động nhiều ít của người dân chứ không có yếu tố bóc lột.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Chu Ru

35. Dân tộc Lào

Dân số dân tộc Lào: 17.532 người

Dân tộc Lào là một trong số các dân tộc thiểu số hiện đang cư trú ở các tỉnh Lào Cai, Điện Biên, Sơn La. Ngoài áp dụng các kỹ thuật canh tác, làm thủy lợi để trồng lúa nước thì người dân tộc Lào còn có các nghề phụ như là làm gốm, dệt, làm đồ bạc, rèn,..

Trong văn hóa của người dân tộc Lào sẽ có một người giỏi chữ thực hiện việc ghi chép các câu truyện cổ hay dân ca để lưu truyền sang nhiều thế hệ, tránh bị mai một. Ngoài ra thì văn nghệ dân gian của người Lào cũng sẽ có chịu ảnh hưởng một phần của văn nghệ dân gian của dân tộc Thái.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Lào

36. Dân tộc Kháng

Dân số dân tộc Kháng: 16.180 người

Người Kháng, còn gọi là Xá Khao, Xá Xúa, Xá Đón, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá Aỏi, Xá Bung, Quảng Lâm, là dân tộc cư trú tại bắc Việt Nam và Lào.

Người Kháng nói tiếng Kháng, là ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer. Tuy nhiên vị trí của nó trong nhánh Môn-Khmer chưa được xác định rõ ràng, Tiếng Kháng được cho là thuộc ngữ chi Khơ Mú hoặc ngữ chi Palaung.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Kháng

37. Dân tộc La Chí

Dân số dân tộc La Chí: 15.126 người

Người dân tộc La Chí sinh sống ở khu vực Lào Cai, Hà Giang với phong tục trồng lúa nước, làm ruộng bậc thang và những vùng đất nương tốt sẽ dùng để trồng bông, trồng chàm. Họ thường sống trong những ngôi nhà kiểu quần thể nhà sàn, nhà trệt và nhà kho trong một không gia nhỏ tuy nhiên lại có lối kiến trúc chặt chẽ vô cùng độc đáo. Thường trong một gia đình thì sẽ có nhiều thế hệ hay các cặp vợ chồng cùng sinh sống chung với nhau.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc La Chí

Người La Chí sẽ thờ cúng tổ tiên vào những dịp lễ Tết và đặc biệt trong những ngày chôn cất ba mẹ thì con cái sẽ cần ghi nhớ và hàng năm đến ngày này sẽ không được gieo lúa, cho vay hay mượn vào ngày này.

38. Dân tộc Phù Lá

Dân số dân tộc Phù Lá: 12.471 người

Người dân tộc Phù Lá sinh sống nhiều nhất ở tại tỉnh Lào Cai của nước ta, ngoài ra cũng sẽ có một số ít sống tại các vùng Hà Giang, Yên Bái. Ngoài tên gọi là Phù Lá thì dân tộc này còn được biết đến là dân tộc Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Va Xơ Lao,… Ngành nghề thủ công của người Phù Lá cũng rất nổi tiếng với các sản phẩm đan mây, tre để làm các dụng cụ chứa đựng như là gùi. Họ sẽ dùng chúng để đem đổi lấy nhiều món hàng hóa khác để sử dụng trong đời sống.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Phù Lá

39. Dân tộc La Hủ

Dân số dân tộc La Hủ: 12.113 người

Ngoài tên gọi La Hủ thì dân tộc này còn được gọi bằng nhiều tên khác như Cò Xung, Xá Lá Vàng, Khù Sung, Khả Quy,.. Họ thường sống tập trung chủ yếu ở vùng Lai Châu, Thái Nguyên. Ngôn ngữ của người La Hủ thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến của hệ Hán – Tạng.

Trước kia thì người dân La Hủ sẽ sống chủ yếu nhờ làm rẫy, lái lượm và săn bắn là chính. Tuy nhiên trong giai đoạn những năm gần đây thì họ đã biết trồng lúc nước và sử dụng trâu cày làm ruộng.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc La Hủ

40. Dân tộc La Ha

Dân số dân tộc La Ha: 10.157 người

Đồng bào dân tộc La Ha nằm trong danh sách 16 dân tộc ít người của nước ta. Họ sinh sống chính tại tỉnh Sơn La và lấy nghề làm rẫy, hái lượm để có nguồn thức ăn chính. Ngày nay người La Ha đã biết trồng lúa nước và nuôi thêm các loài gia súc gia cầm để cải thiện đời sống.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc La Ha

Việc yêu đương của người La Ha hoàn toàn tự do tuy nhiên khi cưới xin cần có sự ưng thuận từ phía ba mẹ. Để tỏ tình với cô gái thì chàng trai sẽ đi đến nhà cô gái để sử dụng những nhạc cụ như sáo, nhị và lời ca để tỏ bày trước khi nói chuyện. Nếu như sau lễ dạm hỏi mà nhà gái không trả lại trầu cho bà mối phía nhà trai đưa đến thì sẽ tổ chức lễ xin ở rể và thời gian ở rể sẽ từ 4 năm – 8 năm. Sau thời hạn này thì lễ cưới sẽ được tiền hành, lúc này cô dâu sẽ theo chồng về nhà và phải đổi họ theo chồng.

41. Dân tộc Pà Thẻn

Dân số dân tộc Pà Thẻn: 8.248 người

Người dân tộc Pà Thẻn sinh sống chủ yếu tại 2 tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang.

Người Pà Thẻn sống bằng nghề trồng lúa nước, làm nương rẫy và trồng cây chè Shan tuyết. Những người Pà Thẻn chia làm nhiều họ khác nhau và người dân tộc này cũng quy định khi cùng họ thì đã là người thân thích và không được lấy nhau.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Pà Thẻn

42. Dân tộc Chứt

Dân số dân tộc Chứt: 7.513 người

Người dân tộc Chứt sinh sống tập trung tại tỉnh Quảng Bình, Đak Lak, Hà Tĩnh, Lâm Đồng. Ngôn ngữ mà người Chứt sử dụng có cùng hệ với tiếng Việt nguyên thủy. Trước kia họ sống chủ yếu theo lối du canh du cư và khá nhút nhát, gặp người lạ là sẽ lẩn trốn vào rừng. Thường khi ấu cũng chưa có quần áo mà chỉ che thân bằng vỏ cây sui, ngủ trong các lều tự tạo hoặc hang động. Đến hiện nay thì người Chứt đã sống định canh định cư và biết trồng trọt, canh tác cũng như chăn nuôi, đan lát.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Chứt

Người Chứt rất tin vào các vị thần và người tối cao trong tín ngưỡng của họ chính là Thần Nông. Khi mỗi hoạt động nông nghiệp quan trọng diễn ra như xuống giống, gieo hạt,.. đều tổ chức lễ cúng bái.

43. Dân tộc Lự

Dân số dân tộc Lự: 6.757 người

Người Lự cư trú chủ yếu tập trung ở 2 huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và một lượng đáng kể di cư vào tỉnh Lâm Đồng.

Người Lự đã có truyền thống làm ruộng từ rất lâu đời, họ biết cày bừa, dẫn nước vào mương, gieo mạ, cấy lúa và còn trồng thêm rất nhiều loại cây ngô, khoai, sắn, chàm, bông cạnh phía vườn nhà. Hầu như nghề dệt khá phổ biến với người Lự khi đi đến mỗi gia đình sẽ đều thấy có vài ba khung cửi ở đó.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Lự

44. Dân tộc Lô Lô

Dân số dân tộc Lô Lô: 4.827 người

Đồng bào dân tộc Lô Lô sinh sống ở khu vực các tỉnh Cao Bằng và Hà Giang. Tuy là dân tộc thiểu số ít người nhưng những nét văn hóa lâu đời, giá trị truyền thống luôn được gìn giữ theo năm tháng. Thường thì người Lô Lô sẽ cư trú trong những ngôi nhà dựa lưng vào phần vách núi với cửa hướng về phía thung lũng và cánh đồng. Không gia nhà ở cũng có 3 gian như một số dân tộc khác với gian giữa để bàn thờ tổ tiên, tiếp khách và tổ chức đám cưới, đám ma. Gian bên phải là nơi mà ông bà và bố mẹ sẽ sinh sống còn gian bên trái là nơi mà con trai, con dâu hay con rể sẽ ở. Một phần gác phía trên sẽ dùng cho khách ngủ lại hoặc để các đồ thực phẩm khô trong nhà.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Lô Lô

45. Dân tộc Mảng

Dân số dân tộc Mảng: 4.650 người

Người Mảng sống đông đúc nhất tại khu vực Nậm Nhùn, Lai Châu. Ở đây người dân tộc Mảng thờ vị thần tối cao là trời và cũng rất tin tưởng vào các yếu tố tâm linh đã tạo nên nhiều tục lệ kiêng kị như là con dâu không được vào phòng ngủ của bố mẹ chồng, người chết khi mang đi chôn phải đi về phía cửa phụ chứ không được đi cửa chính,..

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Mảng

46. Dân tộc Cờ Lao

Dân số dân tộc Cờ Lao: 4.003 người

Người dân tộc Cờ Lao sinh sống tại các huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang và họ sử dụng ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai, tuy nhiên hiện nay còn rất ít người có thể nói được thứ tiếng này, hầu như đã chuyển sang sử dụng một loại ngôn ngữ là tiếng Quan Thoại. Họ đôi khi cũng sẽ dùng ngôn ngữ Bố Y hay H’Mông để thay thế.

Họ sinh sống trên những khu vực núi đá nên thường chủ yếu là sẽ làm nương cày, thổ canh là chính. Tại đây cây ngô là lương chính của người Cờ Lao. Với những người sống tại vùng núi đất thì sẽ chuyển sang sinh sống bằng trồng ruộng bậc thang, đan lát, làm đồ gỗ.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Cờ Lao

47. Dân tộc Bố Y

Dân số dân tộc Bố Y: 3.232 người

Người dân tộc Bố Y hiện đang sống tập trung nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái và Tuyên Quang. Họ sử dụng ngôn ngữ thuộc chi Thái trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Người Bố Y sống bằng nghề làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc gia cầm và có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi cá. Họ sẽ ra sông tìm trứng cá và bỏ và ao hoặc ruộng nước để nuôi.

Vì sống ở khu vực núi cao có độ ẩm và lượng mưa lớn nên nhà ở bắt buộc phải sử dụng đến các vật liệu chắc chắn như là tre, gỗ. Thường các nhà ở đều sẽ nằm quây quần bên khu vực sườn đồi hay bờ suối, thung lũng có nền tôn cao.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Bố Y

48. Dân tộc Cống

Dân số dân tộc Cống: 2.729 người

Người Cống sinh sống tập trung tại Điện Biên và Lai Châu là chủ yếu. Họ sống bằng nghề làm nương rẫy, hầu hết thức ăn đều tìm kiếm trong rừng, bắt cá bằng tay hay dùng các loại bả thuốc độc làm từ lá cây rừng. Phụ nữ người Cống không biết dệt vải nên hầu hết họ sẽ trồng bông và đem đổi lấy vải hay quần áo, tuy nhiên họ lại đan lát rất giỏi.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Cống

Ngày trước theo tục lệ chỉ cho người cùng dân tộc lấy nhau nhưng về sau đã có thể cưới được người dân tộc khác. Với những người cùng dòng họ thì cần cách 7 đời mới được kết hôn với nhau. Thường thì sau lễ dạm hỏi chàng trai sẽ bắt đầu ở rể, cô gái có chồng sẽ búi tóc lên đỉnh đầu. Đến khi nào cả hai sinh được con thì mới làm đám cưới. Để tổ chức lễ thì phía nhà trai cần có bạc trắng để nộp cho nhà gái, còn nhà gái phải có của hồi môn cho cô dâu mang về nhà chồng

49. Dân tộc Ngái

Dân số dân tộc Ngái: 1.649 người

Người dân tộc Ngái sử dụng ngôn ngữ theo hệ Hán – Tạng. Họ thường sinh sống đông nhất tại các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Đồng Nai, Bình Thuận,.. Tùy thuộc vào khu vực sinh sống mà người dân tộc Ngái sẽ có thể trồng lúa, làm đồ thủ công, đánh bắt cá,..

Trong hôn nhân gia đình người Ngái khá bình đẳng với nhau, người chồng sẽ là trụ cột chính. Trước kia trong lễ cưới hỏi người Ngái sẽ trải qua 2 lần cưới là lễ thành hôn và lễ nhập phòng. Phụ nữ người Ngái khi sinh con sẽ cần kiêng cữ rất nhiều thức và sau khi sinh con đầu 60 ngày hoặc với con thứ 40 ngày mới được về nhà mẹ đẻ.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Ngái

50. Dân tộc Si La

Dân số dân tộc Si La: 909 người

Người Si La hiện đang sinh sống tại Lai Châu, họ sử dụng ngôn ngữ thuộc ngôn ngữ Tạng-Miến thuộc hệ Hán – Tạng. Người Si La sinh sống bằng nghề trồng ngô, trồng lúa. Người dân tộc Si La có rất nhiều dòng họ và đều có quan hệ rất khắng khít với nhau.

Trong hôn nhân của người Si La sẽ là một vợ một chồng. Tuy nhiên những con cô con cậu cách 3 đời sẽ được phép kết hôn với nhau. Họ không chấp nhận ly hôn tuy nhiên lại cho phép những người góa bụa được tái hôn. Thường thì sau lễ cưới cô dâu sẽ có thể về sống tại nhà chồng. Hoặc rể đến ở nhà vợ trong khoảng từ 1- 8 năm, tuy nhiên không ở đời. Sau khi hết thời hạn ở rể sẽ buộc tách ra ở riêng và có thể làm nhà sát bố mẹ vợ để tiện chăm sóc.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Si La

51. Dân tộc Pu Péo

Dân số dân tộc Pu Péo: 903 người

Người Pu Péo sinh sống tập trung chủ yếu tại khu vực Cao nguyên Đồng Văn, Hà Giang với nghề làm ruộng bậc thang, trồng ngô, mạch ba góc, đậu,.. Loại lương thực chính của họ thường ngày chính là bột ngô đồ chín.

Tương tự như những dân tộc anh em sinh sống tại miền núi phía Bắc nước ta thì người Pu Péo cũng có tín ngưỡng thờ đa Thần. Họ thờ nhiều thần linh như thần rừng, thần núi, thần suối, thần sông,.. Trong đó lễ hội cúng thần rừng của người Pu Péo lại có nét văn hóa đặc trưng riêng không giống với bất cứ dân tộc khác.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Pu Péo

52. Dân tộc Rơ Măm

Dân số dân tộc Rơ Măm: 639 người

Người Rơ Măm cư trú tập trung chính ở tại Kon Tum thường sống bằng nghề trồng lúa nếp, làm rẫy là chính. Mỗi ngôi nhà trong làng sẽ có tầm 10 – 20 người thuộc nhiều thế hệ khác nhau cùng sinh sống. Hiện thì những cặp vợ chồng anh chị em trong nhà đã gần như độc lập về kinh tế.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Rơ Măm

Người dân tộc Rơ Măm hiện vẫn còn dữ tập tục ăn bốc và món ưa thích thường xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày là cơm nếp đốt trong ống tre ăn với canh và muối ớt. Nước uống sẽ lấy từ các mạch nước ngầm và đựng trong vỏ bầu khô, uống trực tiếp mà không cần đun sôi.

53. Dân tộc Brâu

Dân số dân tộc Brâu: 525 người

Đồng bào dân tộc Brâu sử dụng ngôn ngữ thuộc hệ tộc Môn – Khmer. Họ quen sống theo lối du canh du cư với phương pháp đốt rừng làm rẫy để trồng lúa, ngô, khoai sắn tuy nhiên kỹ thuật trồng trọt còn kém, công cụ sản xuất còn thô sơ nên chứ có năng suất cao.

Trong phong tục của người Brâu thì lễ cúng nhà mới được xem là một dịp trọng đại, lúc này sẽ mời cả làng đến tham dự bữa tiệc chung vui.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Brâu

54. Dân tộc Ơ Đu

Dân số dân tộc Ơ Đu: 428 người

Dân tộc Ơ Đu là dân tộc thiểu số ít người nhất trong 54 dân tộc của Việt Nam. Người Ơ Đu hiện đang sinh sống chủ yếu tại Tương Dương, Nghệ An. Họ sử dụng ngôn ngữ thuộc chi Khơ Mí của ngữ tộc Môn – Khmer. Trong văn hóa người Ơ Đu chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi những nền văn hóa của dân tộc Thái hoặc Khơ Mú. Họ sinh sống chính bằng nương rẫy, săn bắn và hái lượm. Các loài vật như gà, lợn thường nuôi với mục đích để cúng bái, đãi khách khứa đến nhà.

Hình ảnh giới thiệu dân tộc Ơ Đu

Hôn nhân của người Ơ Đu có tục lệ không kết hôn trong cùng tộc, thường sẽ kết hôn với những người dân tộc khác. Họ cũng có tục ở rể, và sau một thời gian sinh sống chàng rể có thể đưa vợ về lại nhà mình để sinh sống. Người phụ nữ Ơ Đu cũng có tục sinh ngồi, và đứa bé sẽ được tính tuổi từ ngày có tiếng sấm trong năm, lúc này sẽ tính là đầy năm và ba mẹ lúc này sẽ làm lễ đặt tên.

Giá trị của sự đa dạng văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc

Mỗi dân tộc tại Việt Nam có một hành trình lịch sử, môi trường cư trú và phương thức thích ứng riêng. Sự khác biệt về tiếng nói, nhà ở, trang phục, nghi lễ, âm nhạc hay ẩm thực không tạo ra khoảng cách về giá trị giữa các cộng đồng, mà góp phần hình thành một nền văn hóa Việt Nam đa dạng trong thống nhất.

Khi tìm hiểu phong tục của các dân tộc, cần tránh cách nhìn kỳ lạ hóa, giật gân hoặc chỉ tập trung vào những tập tục cổ đã mai một. Một cộng đồng không thể được định nghĩa bằng duy nhất một lễ hội, một bộ trang phục hay một nghi thức hôn nhân. Đời sống của đồng bào các dân tộc luôn vận động, tiếp nhận tri thức mới và chủ động lựa chọn cách gìn giữ bản sắc.

Bảo tồn văn hóa không đồng nghĩa với giữ nguyên mọi tập tục của quá khứ. Những giá trị nhân văn, tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật, nghề thủ công và tri thức về môi trường cần được trân trọng; trong khi các thực hành không còn phù hợp với pháp luật, sức khỏe hoặc quyền con người cần được cộng đồng điều chỉnh.

Hiểu đúng về 54 dân tộc Việt Nam cũng là cách nuôi dưỡng sự tôn trọng, bình đẳng và tinh thần đoàn kết. Di sản chỉ thực sự có sức sống khi chính cộng đồng được tham gia gìn giữ, truyền dạy và hưởng lợi từ những giá trị văn hóa mà nhiều thế hệ đã tạo dựng.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.048 bài viết của Chi Tran
Bài viết cùng chuyên mục

Để lại bình luận