Phật giáo

Sự tích Đức Phật Di Lặc

Đức Phật Di Lặc là vị Phật thứ năm trong Hiền Kiếp nối ngôi Phật Thích Ca. Tuy nhiên số kiếp chưa đến, Ngài còn ở trong trời đất hóa thân trong mười phương mà thuyết pháp độ chúng sinh. Phật Di Lặc có tướng mập tròn, thường có trẻ con quấn quýt vui vẻ xung quanh.

398

Phật Di Lặc chính là biểu tượng của hạnh phúc trọn vẹn. Theo truyền thuyết, niềm vui lớn nhất của vị Bồ Tát này là biến những buồn phiền, giận dữ, áp lực hay căng thẳng của con người thành hạnh phúc.

Sự tích Đức Phật Di Lặc
tượng Đức Phật Di Lặc

Mỗi con đường đến với Phật pháp đều vô cũng chông gai gian khổ, hãy cùng Văn Hóa Tâm Linh đi tìm hiểu về sự tích Phật Di Lặc nhé.

Ngày xửa ngày xưa tại một nước Lương nọ, đời Ngũ Quý, tại Phụng hóa Châu Minh, có một vị hòa thượng thân hình khác người, trán nhăn bụng lớn và hình vóc mập mạp. Chẳng biết vị hòa thượng này đến từ đâu, tên họ là gì, chỉ thấy ông thường mang theo một cái túi vải và một chiếc gậy tích trượng nên mọi người gọi ông là Bố Đại Hòa Thượng. Hòa thượng tính rất đỗi khôi hài, ban ngày đi lưu lạc không cỗ định, ông đi đâu rồi cũng trở về chùa Nhạc Lâm.

Mỗi lần đi đường là xung quanh ông lại có 18 đứa trẻ con vây xung quanh mà vui đùa, ông cứ nhoẻn miệng cười mãi. Mọi người cho ông những vật gì, khi ăn xong, còn lại bao nhiêu đều gói bỏ vào chiếc túi vải bên hông.

Có một lần, Hòa thượng gặp thầy Sa Môn, ông vỗ vai một cái làm cho thầy giật mình, thầy Sa Môn mới ngó hỏi:

– Hòa thượng có việc gì thế?

Ông liền giơ tay nói:

– Ngươi cho ta xin một đồng tiền.

Thầy Sa Môn bèn nói:

– Nếu tôi hỏi một câu mà Hòa thượng trả lời được thì tôi sẽ cho hòa thượng.

Nghe thế hòa thượng đặt chiếc túi xuống, chấp tay một bên rồi lấy túi đeo lên quay người bỏ đi. Một lần nọ lại có một ông Tăng hỏi ông:

– Hòa Thượng người đang ở trong đám đông làm gì vậy?

– Ta đang đợi một người – Hòa thượng đáp.

Ông Tăng tò mò:

– Hòa thượng đợi ai thế?

Vị hòa thượng bèn lấy từ trong túi lấy một trái quýt đưa cho ông Tăng, ông Tăng vừa giơ tay chưa kịp lấy thì Hòa thượng rụt tay lại mà bảo:

– Ngươi không phải người ta đang chờ.

Thế rồi hòa thượng quay lưng bỏ đi. Lại một lần khác, ông Tăng thấy hòa thượng đứng giữa ngã tư chợ, an nhiên quan sát thì sinh ra tò mò, ông Tăng mới tiến lại gần hỏi:

– Hòa thượng ở đây làm gì thế?

Hòa thượng liền đáp:

– Ta đi hóa duyên

– Hóa duyên sao lại giữa chốn ngã tư đông đúc thế này? – ông Tăng thắc mắc.

Ngài trả lời:

– Ngã tư chính là chỗ Ta muốn hóa duyên.

Ông Tăng chưa kịp hỏi câu tiếp theo thì hòa thượng đã cầm túi vải lên rồi cười ngất mà đi. Có rất nhiều người tò mò về cái túi vải của hào thượng nhưng vị hòa thượng không bao giờ trả lời mà chỉ lẳng lặng chấp tay bỏ đi. Hòa thượng đi tới đâu thì mọi người vui vẻ, cười nói xum xuê, hào thượng vào quán nào thì quán đó buôn bán đắt đỏ, nên người ta cứ hễ thấy ông là tranh nhau đón tiếp.

Ngày mưa, hòa thượng đi guốc cao gót, nằm ngửa trên cái cầu to, co chân lên thì tự nhiên mưa tan, mặt trời lại hé ra, nắng lại lên ấm áp. Còn hễ trời nắng, ngài đi đôi dép cỏ là trời mưa. Hòa thượng hay lui đến nhà một nông phu nọ ăn cơm, có một hôm người vợ thấy vậy nổi giận nói:

– Việc ruộng nương lo còn chưa xuể, sao mà nuôi được tên Hòa thượng điên kia hoài?
Hòa thượng nghe thế thì liền đem cơm đổ dưới gốc cây dâu ở bên nhà rồi bỏ đi. Bỗng dưng cơm ấy bỗng hoàn lại trong nồi người nông phu, hai vợ chồng kinh hãi cùng nhau đi tìm hòa thượng mà xin sám hối.

Khi hòa thượng ở Mân Trung, làm nhiều việc kì thần, nên có một người cư sĩ họ Trần cảm phục mời hòa thượng về nhà mà đãi rất cẩn trọng. Được vài bữa thì hòa thượng lên đường đi, trước khi đi Trần cư sĩ ngỏ lời muốn biết danh tính quê quán của hòa thượng. Hòa thượng đáp:

– Ta tỏ thiệt cho ngươi rõ rằng Ta chính là họ Lý, sanh ngày mùng tám tháng hai. Ta chỉ biểu hiệu cái túi vải này mà để độ đời đó thôi. Vậy ngươi chớ tiết lộ cho ai biết.

Trần cư sĩ nghe vậy thì thưa:

– Hòa thượng à, thế gian lắm điều thị phi, người đi đâu đối đáp cho hợp lí kẻo mang tiếng thị phi.

Hòa thượng cười mà rằng:

– Ghét thương phải quấy biết bao là,

Xét nét lo lường giữ lấy ta;

Tâm để rỗng thông thường nhẫn nhục,

bửa hằng thong thả phải tiêu ma;

Nếu người tri kỷ nên y phận,

Dẫu kẻ oan gia cũng cộng hòa;

Miễn tấm lòng này không quái ngại,

Tự nhiên chứng đặng “Lục ba la”

Ông Trần cư sĩ lại hỏi rằng:

– Hòa thượng người có pháp hiệu hay không?

Hòa thượng đáp:

– Ta có chiếc túi vải này, rộng lớn vô biên, mở ra là thấy mười phương cõi lạc, ung dung tự tại.

Trần cư sĩ thắc mắc:

– Thế Hòa thượng có hành lí mang theo không?

Ngài cười mà nói rằng:

– Ta chỉ có thân này, cơm ăn vạn nhà, ngao du thiên hạ, đâu vướng bận những phàm tục trần thế?

Ông Trần cư sĩ nghe thế thì cảm phục lắm, ông kính cẩn:

– Đệ tử không tinh thông phật pháp, vậy làm thế nào để thấy Phật đây?

Hòa thượng bèn đáp:

– Phật chính là tâm mình vậy, tâm thiện chính là Phật trong lòng, các người có đi khắp nơi cũng không bằng tấm lòng chân thật hướng thiện.

Cư sĩ gật đầu hiểu chuyện:

– Cảm tạ ngài đã khai thông, lần này ngài đi nên ở nơi đình chùa, đừng ở nhà thế gian mà sinh phiền não.

Hòa thượng bèn đáp:

– Ta lấy bốn phương làm nhà, người kia tâm linh rõ ràng thì không thể tạo ngược, chúng sinh là con trời, gieo nhân ắt gạp quả.

Trần cư sĩ nghe thế thì nể phục, lại rất cóc ảm tình, bèn thưa:

– Xin hòa thượng ở lại nhà tôi một đêm dùng cơm chay với tôi, đệ tử hết lòng cung kính mong người từ bi ai nạp.

Hòa thượng gật đầu đồng ý, sáng ra hào thượng dậy từ sớm bỏ đi, trước khi đi òa thượng viết một bài kệ dán trên cửa:

Ta có một thân Phật,
Có ai đặng tường tất;
Chẳng vẽ cũng chẳng tô,
Không chạm cũng không khắc;
Chẳng có chút đất bùn,
Không phải màu thể sắc;
Thợ vẽ, vẽ không xong,
Kẻ trộm, trộm chẳng mất;
Thể tướng vốn tự nhiên,
Thanh tịnh trong vặc vặc;
Tuy là có một thân,
Phân đến ngàn trăm ức.

Hòa thượng đến quận Tứ minh thì hay giao du với ông Tưởng Tôn Bá, hai người như bạn lâu năm mà thân thiết. Hòa thượng khuyên Tưởng Tôn Bá nên niệm câu chú mỗi ngày: “Ma ha bát nhã ba la mật đa”. Vì vậy người ta đều kêu ông Tưởng Tôn Bá là: Ma ha cư sĩ. Một ngày nọ hai người cùng tắm dưới khe Trường Đinh, ông Ma Ha mới nhìn thấy lưng hòa thượng có 4 con mắt rực rỡ chói sáng thì ngạc nhiên hết sức bèn thốt lên:

– Hòa thượng đúng là một vị Phật tái thế.

Hòa thượng liền bảo:

– Người chớ tiết lộ ra ngoài, ta và ngươi đã kết thân 4 năm rồi, nay đã đến lúc ta phải đi, vậy ta hỏi ngươi có muốn giàu sang hay không?

Ông Ma Ha cư sĩ thưa rằng:

– Giàu sang như mây trôi gió cuốn, không bền chắc được, tôi chỉ mong con cháu tôi đời đời viên mãn.

Hòa thượng thò tay vào túi móc ra một chiếc túi nhỏ đưa cho Ma Ha cư sĩ căn dặn ông phải giữ gìn cho kĩ cũng như hậu vận của ông. Ma Ha cư sĩ chưa hiểu gì thì hòa thượng đã bỏ đi, vài bữa sau hòa thượng quay lại bảo:

– Nhà ngươi có hiểu ý ta hay không?

Ma ha cư sĩ cung kính mà thưa rằng:

– Thưa ngài, tôi nghĩ mãi mà vẫn chưa tỏ tường được.

Hòa thường cười đáp:

– Ta muốn cho con cháu nhà ngươi sau này cũng như mấy vật của ta cho đó vậy.
Thế rồi hòa thượng từ giã đi. Quả nhiên về sau con cháu Ma Ha được vinh hoa phú quý, hưởng lộc nước đời đời.

Ngày mồng ba tháng ba năm thứ ba niên hiệu Trịnh Minh, hòa thượng không chút bệnh tật, ngồi trên bàn thạch gần mái chùa Nhạc Lâm mà nhập diệt. Có một ông Trấn Đình trước kia hay giật túi vải của hòa thượng mà đốt, cứ đốt xong hôm sau lại thấy cái túi vải vẫn y nguyên trên người hào thượng thì kinh hãi, để tỏ lòng hối lỗi ông Trấn Đình lo mua quan quách mà tẩn liệm thi hài, nhưng khi khiêng quan tài đi chôn thì bao nhiêu người cũng không khiêng nổi. Trong mấy người đó có một người họ Đồng ngày thương tỏ lòng tôn kính hòa thượng trọng hậu, bèn đi mua cái quan tài khác, rồi liệm thi hài của Ngài thì đến khi khiêng, số người vẫn như đó mà khiêng nhẹ bỗng. Mọi người thấy thế thì cung kính muôn phần.

Dân chúng tỏ lòng mến mộ bèn cùng nhau xây tháp cho Ngài ở núi Phong Sơn, nơi mà trước kia Ngài từng ngự, có chỗ để tích Trượng, chỗ để bình bát của Ngài. Những chỗ sâu, cạn, chỗ lớn chỗ nhỏ đều có nước đầy ắp, dẫu trời hạn thì cũng chưa bao giờ khô cạn.

Phật giáo

Phật Di Lặc là ai, có thật không, ra đời khi nào?

Phật Di Lặc là một trong 3 vị Tam Thế Phật trong Phật giáo. Ngài là biểu tượng cho sự an lạc, vui vẻ, may mắn và hạnh phúc.

767

Truyền thuyết về Phật Di Lặc

Theo Kinh Phật giáo, vị Di Lặc sẽ xuất hiện trên Trái Đất để cứu thế, độ nhân loại. Vị Phật Di Lặc xuất hiện khi giác ngộ hết hoàn toàn giảng dạy Phật Pháp và giáo hóa chúng sinh chứng ngộ thành Phật. Phật Di lặc là vị Phật kế tiếp sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Di Lặc được tiên tri sẽ giáng sinh trong kiếp giảm của tiểu kiếp kế tiếp, khi nhân thọ là 80.000 năm, tức khoảng hàng trăm triệu năm nữa theo năm Trái Đất, khi Phật Pháp đã hoàn toàn bị loài người lãng quên.

Phật Di Lặc là ai, có thật không, ra đời khi nào?
Phật Di Lặc xuất hiện khi nào?

Truyền thuyết về Phật Di Lặc còn được tìm thấy trong tài liệu kinh điển của Phật giá như: Nguyên Thủy, Đại Thừa, Kim Cương thừa. Phật Di Lặc sẽ là bậc giác ngộ Pháp và thuyết lại cho chúng sinh như những vị Phật trong lịch sử. Năm Đức Phật xuất hiện trên Trái Đất được xem là hóa thân của Ngũ Phật thì Phật Di Lặc được xem như hóa thân của Thành sở tác trí (Ngũ trí). Phật Di Lặc cũng được xem là người sáng lập nên hệ phái Duy Thức của Đại Thừa.

Nguồn gốc của Phật Di Lặc

Phật Di Lặc trong tiếng Phạn có tên là: Metteyya, Maitreya (Sanskrit), Jhampa (Tây Tạng), Milo (Nhật Bản), Từ Thị (Trung Quốc) có nghĩa là Đấng Từ bi, Người có lòng từ, mang chủng tính từ bi. Theo Đại Nhật kinh sớ, Từ Thị có nghĩa là chủng tính từ bi. Lòng từ bi này sinh ra từ chủng tính Như Lai hay Phật tính. Ấn Độ là nguồn gốc của Phật giáo nên tên các vị Bồ Tát của Phật giáo thường được xuất phát từ đây. Vì thế, chúng ta phải hiểu nguồn gốc tên Di Lặc của Ngài chỉ là một thói quen phát âm của dân tộc Việt Nam chúng ta. Trong Tùy Hỷ trong Kinh Pháp Hoa và Kinh Bình Đẳng Giác, Di Lặc chính là A-dật-đa (tiếng Phạn: Ajita, Hán dịch là Vô Thắng, Vô Năng Thắng hoặc Vô Tam Độc). Ngài là một vị đệ tử của Phật Thích ca. Nhưng theo Kinh Thuyết Bản trong Trung A-hàm, Kinh Xuất Diệu và Luận Đại Tỳ-bà-sa 178, Di-lặc và A-dật-đa là hai nhân vật khác nhau.

Trong bài viết này chúng ta sẽ phân tích về tên của Ngài:

Trong Kinh Từ Thị Bồ-tát Hạ Sanh có kể lại rằng: Thuở xưa, Đức Phật cùng các vị Tỳ Kheo bàn luận nói về sự xuất hiện của vị bồ tát vị lai này Đức Phật có nói rằng: vào thời ấy, vua Loa có một vị đại thần tên là Thiện Tịnh. Vị hiền thê của đại thần Thiện Tịnh thuở đó tên là Tịnh Diệu. Lúc bấy giờ ở trời Hỷ Túc, khi quán thấy cha mẹ mình không già và cũng không trẻ, Từ Thị Bồ tát giáng thần vào thai mẹ, rồi từ hông bên phải hạ sanh. Đây cũng y như Đức Phật đã sanh ra từ hông bên phải Từ Thị Bồ-tát cũng lại như thế. Lúc ấy đại thần Thiện Tịnh liền đặt tên cho con là Từ Thị. Từ Thị Bồ-tát có thân màu hoàng kim với 32 tướng hảo và 80 vẻ đẹp dùng để trang nghiêm nơi thân.Vào thời ấy, tuổi thọ của loài người rất dài, không có các hoạn nạn và đều sống đến 84.000 năm. Khi người nữ được 500 tuổi thì họ mới xuất giá. Lúc bấy giờ, Từ Thị Bồ-tát sống tại gia khoảng một thời gian không lâu thì sẽ xuất gia học Đạo. Nên tên Từ Thị bắt nguồn từ đây.

Tiếp theo là tên Vô Năng Thắng của Ngài. Theo định nghĩa của tiếng Hán có nghĩa là không thể hơn được. Vì Ngài là bậc tu pháp môn Lục Độ Ba-La-Mật tới bờ bỉ ngạn và không ai có thể thắng hơn được Ngài. Do đó mà mọi người gọi Ngài là Vô Năng Thắng. Định nghĩa Lục Độ Ba-La-Mật: Lục Độ Ba-La-Mật là 6 phương tiện để người từ bờ mê qua bờ giác. Đây là pháp tu của bậc Bồ Tát. Nhưng Bồ Tát không hề an vị tại bờ giác vì mục đích tu hành của Bồ Tát không chỉ nằm ở việc hoàn thiện mình mà chính là cứu độ chúng sanh.

Phật Di Lặc là ai, có thật không, ra đời khi nào?-1
Nguồn gốc Phật Di Lặc

Theo truyền thuyết khác khi Đức Phật còn tại thế thì Phật Di Lặc là một người được sinh ra như đã nói ở trên. Sau khi gặp Phật, Ngài xuất gia và tu theo hạnh Bồ Tát, truyền thuyết về Phật Di Lặc được rất nhiều kinh nhắc tới, Đức Phật có dạy rằng: Sau này ở cõi ta-bà mọi người trở nên rất độc ác và họ bỏ qua mười nghiệp thiện và chỉ làm mười nghiệp ác. Đức Phật có dạy rằng: Sau này ở cõi ta-bà mọi người trở nên rất độc ác và họ bỏ qua mười nghiệp thiện và chỉ làm mười nghiệp ác. Cho nên tuổi thọ của con người giảm dần chỉ còn 10 tuổi (hiện nay tuổi thọ con người được coi là 100 tuổi). Khi đó nạn đao binh, chết chóc, báo ứng nên họ hàng của họ, họ mới nhớ đến 10 nghiệp thiện và tu nghiệp, họ phải tu đến 80,000 tuổi thọ thì Phật Di Lăc sẽ hạ sanh dưới cây Long Hoa.

Ý nghĩa hình tượng Phật Di Lặc

Trong Phật giáo, nụ cười của Đức Thích Ca được gọi là nụ cười an lạc, nụ cười của Đức Phật Di Lặc là nụ cười hoan hỷ. Nếu trong cuộc sống chúng ta luôn trao đổi với nhau bằng nụ cười vô nhiễm thì đời sống này sẽ an lạc biết bao.

Tướng mạo tượng Phật Di Lặc ngày nay được miêu tả với hình ảnh cơ thể khỏe mạnh, mập mạp, áo mặc hở bụng căng tròn phô cả rốn, đi chân đất. Tính tình Phật Di Lặc cũng được miêu tả kì lạ không kém so với thân hình, nói năng vô định, thích ngủ ở đâu thì ngủ.

Phật Di Lặc là ai, có thật không, ra đời khi nào?-2
Hình ảnh Phật Di Lặc

Điểm đặc biệt nhất mỗi khi nhìn vào tượng Phật Di Lặc đó chính là nụ cười hoan hỉ bất diệt, là tấm lòng bao dung độ lượng không bờ bến. Tướng nụ cười của Phật cho người nhìn cảm giác vô lượng từ tâm, thanh thản nhẹ nhàng.

Tướng lỗ tai dài biểu thị sự từ ái, lỗ tai biết lắng nghe ai khen cũng cười, ai chê cũng cười chằng phật lòng ai. Tướng bụng tròn thể hiện lòng từ bi rộng lớn sẽ chứa hết mọi chuyện buồn thế gian.

Phật Di Lặc có phải Thần Tài không?

Hình tượng Đức Phật Di Lặc được dựa theo một truyền thuyết của Trung Hoa. Thời Ngũ Đại Thập Quốc(907-960), có một vị sư mập, mặc áo để hở bụng, gương mặt rất vui, trên vai đeo một cái túi vải. Đi đến đâu Ngài cũng xin, người ta cho cái gì thì bỏ vào túi vải. Sau đó, Ngài lại cho hết những đứa trẻ trên đường. Người ta gọi ngài là “Bố Đại Hòa Thượng” nghĩa là vị hòa thượng đeo túi vải. Dù có người mắng chửi, thậm chí còn nhổ nước miếng lên mặt nhưng Ngài vẫn bình thản, vui cười.

Sau dần, người ta lấy hình tượng bụng phệ, tai to, mặt lớn, miệng lúc nào cũng cười, thần thái lúc nào cũng tự tại, an vui của Bố Đại Hòa Thượng làm hình tượng của Phật Di Lặc.

Không biết từ khi nào, người ta đồng hóa Đức Phật Di Lặc với Thần Tài, qua các hình vẽ hay tượng Phật, xuất hiện thỏi vàng trên tay. Mặc dù, hình tượng này sẽ làm giảm mất tính cao quý của đức Phật, vì Ngài là người không còn tham đắm một thứ gì. Tuy nhiên, chính vì vậy mà hình tượng của Phật Di Lặc được phổ biến rộng rãi trong quần chúng chứ không gói gọn, giới hạn trong khuôn viên chùa chiền.

Thờ tượng Phật Di Lặc trong nhà

Chúng ta học theo gương Đức Di Lặc, xả tất cả cái chấp ngã, chấp pháp. Ngã pháp đã xả thì lục tặc có phá phách đến đâu cũng không làm não loạn tâm ta. Ta đã thắng được chúng và hàng phục chúng trở thành quyến thuộc công đức. Lúc chúng ta giác ngộ, sáu cơ quan ấy trở thành sáu thứ thần thông (thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, thần túc thông, tha tâm thông, túc mạng thông, lậu tận thông).

Biết như vậy chúng ta tập sống hỷ xả không cố chấp. Tất cả đều hỷ xả thì lòng chúng ta nhẹ nhàng như quả bóng bay vào hư không, trí tuệ vô nhiễm phát sanh, tâm luôn an lạc vui vẻ hồn nhiên như tâm một đồng tử chưa vướng bụi trần. Được thế, còn gì làm ta đau khổ, như trời cao biển sâu, không còn bực bội, đắm mê, tâm linh được rỗng rang tỏ ngộ mặc tình thuyền bè xuôi ngược không lưu lại dấu vết!

Thờ tượng đức Di Lặc hay lễ bái ngài, chúng ta phải nhớ hạnh hỷ xả là pháp tu chánh yếu để giải thoát mọi khổ đau. Có hạnh hỷ xả là có giải thoát, có an vui. Hỷ xả là thần dược trị lành mọi bệnh chấp trước của chúng sanh. Nụ cười của đức Di Lặc là nụ cười muôn thuở, không bao giờ biến đổi.

Ngày vía Phật Di Lặc

Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền. Các Tổ đã khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di Lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm mình, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ý nghĩa của tương lai mình. Trong nhà chùa ngày mùng một Tết có ý nghĩa gì? Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di Lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di Lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật. Không hy vọng giàu có sang trọng gì mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di Lặc.

Ý nghĩa thứ hai là hình ảnh vui cười của đức Di Lặc. Đó là hình ảnh hạnh phúc. Vì vậy có chỗ thay vì để danh từ Di Lặc lại để một con người hạnh phúc.