Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)

Khám phá hình ảnh thi cử Việt Nam thời phong kiến: trường thi, sĩ tử lều chõng, quan trường và khoa thi Hương cuối thế kỷ XIX.

Những bức ảnh đen trắng ghi lại cảnh sĩ tử chen nhau trước cổng trường thi, người mang lều, người vác chõng, quan trường ngồi dưới lọng lớn hay đám đông chờ nghe xướng danh đã trở thành hình ảnh quen thuộc khi nhắc đến thi cử Việt Nam ngày xưa. Đằng sau mỗi khuôn hình không chỉ là một kỳ sát hạch kiến thức, mà còn là cả một thế giới văn hóa gắn với Nho học, con đường làm quan, danh dự gia đình và ước vọng đổi thay địa vị xã hội.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ảnh chụp chân thực về khoa cử Việt Nam chỉ xuất hiện vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khi kỹ thuật nhiếp ảnh đã được đưa vào Việt Nam. Vì vậy, phần lớn những bức ảnh hiện còn không phản ánh trực tiếp các kỳ thi dưới thời Lý, Trần hay Lê sơ, mà chủ yếu ghi lại khoa cử cuối triều Nguyễn, trong bối cảnh Việt Nam đã chịu sự chi phối của chính quyền thuộc địa Pháp.

Qua các ảnh tư liệu, tranh vẽ, hiện vật và ghi chép lịch sử, người xem ngày nay có thể hình dung tương đối rõ về trường thi, trang phục sĩ tử, đồ dùng mang theo, nghi thức của quan trường, cách bảo vệ trường quy cũng như không khí vừa trang nghiêm vừa hỗn độn của những khoa thi cuối cùng.

Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)
Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa (thời phong kiến)

Những hình ảnh thi cử Việt Nam xưa còn lại thuộc thời kỳ nào?

Lịch sử khoa cử Nho học ở Việt Nam thường được tính từ khoa thi năm 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông. Kỳ thi này được sử sách nhắc đến với tên gọi thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường. Từ những bước khởi đầu dưới thời Lý, chế độ thi cử tiếp tục được xây dựng dưới thời Trần, hoàn thiện và phát triển mạnh dưới thời Lê, sau đó được duy trì đến cuối triều Nguyễn.

Nếu tính từ năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, khoa cử Nho học Việt Nam tồn tại hơn tám thế kỷ. Tuy vậy, hệ thống này không hoàn toàn giống nhau trong mọi thời đại. Tên gọi học vị, nội dung thi, số trường thi, cách tuyển chọn và quy định dành cho sĩ tử từng được điều chỉnh theo từng triều đại.

Trong phần lớn thời gian ấy, chưa có máy ảnh. Hình ảnh về thi cử thời Lý, Trần, Lê mà chúng ta thấy trong sách giáo khoa, bảo tàng hoặc các chương trình phục dựng hiện nay thường thuộc một trong những loại sau:

  • Tranh vẽ hoặc bản khắc do người đương thời hay người đời sau thực hiện.
  • Hình minh họa dựa trên sử liệu.
  • Mô hình trường thi được phục dựng.
  • Tranh dân gian về cảnh vinh quy, xướng danh hoặc đỗ đạt.
  • Hiện vật như quyển thi, nghiên mực, bút lông, ống quyển, bia tiến sĩ.
  • Ảnh chụp cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Bởi vậy, khi chú thích ảnh “thi cử Việt Nam thời phong kiến”, cần phân biệt rõ ảnh tư liệu gốc với tranh minh họa hoặc hình phục dựng. Không nên sử dụng một cảnh tái hiện hiện đại rồi giới thiệu như ảnh được chụp từ thời Lê hay thời Trần.

Bộ ảnh khoa thi Hương năm 1897 tại Nam Định

Một trong những bộ ảnh nổi tiếng và có giá trị nhất về khoa cử Việt Nam là loạt ảnh ghi lại khoa thi Hương năm Đinh Dậu 1897 tại Nam Định.

Các bức ảnh được thực hiện bởi Firmin-André Salles, một nhiếp ảnh gia và nhà thám hiểm người Pháp hoạt động tại Việt Nam, Lào và Campuchia trong những năm 1896–1898. Nhờ kỹ thuật chụp trên kính khô, hình ảnh có độ chi tiết khá cao, cho phép người xem nhận diện trường thi, quan viên, sĩ tử, lính lệ, lọng nghi trượng và những đám đông tập trung quanh khu vực thi.

Đây không phải là hình ảnh đại diện cho toàn bộ hơn tám thế kỷ khoa cử Việt Nam. Chúng phản ánh một khoa thi cụ thể vào cuối thế kỷ XIX, khi nền giáo dục Nho học đang đứng trước những thay đổi lớn. Dẫu vậy, bộ ảnh vẫn là nguồn tư liệu trực quan quý giá giúp hình dung cách tổ chức một kỳ thi Hương thời Nguyễn.

Thi cử thời phong kiến nhằm mục đích gì?

Thi cử Nho học trước hết là phương thức tuyển chọn người có học vấn để bổ sung vào bộ máy nhà nước quân chủ. Người dự thi phải học kinh điển Nho gia, luyện khả năng làm văn, bàn luận chính trị, trình bày phương sách trị nước và tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về chữ viết, thể thức bài làm.

Con đường học hành thường bắt đầu tại gia đình, lớp học của các thầy đồ hoặc trường học ở địa phương. Những người có điều kiện và năng lực có thể tiếp tục theo học tại các trường phủ, trường tỉnh hoặc Quốc Tử Giám.

Việc thi đỗ không đồng nghĩa mọi người đều lập tức được giữ chức vụ cao. Tuy nhiên, học vị khoa bảng có thể mở ra cơ hội được bổ dụng, tham gia bộ máy hành chính hoặc trở thành người có uy tín trong cộng đồng.

Đối với nhiều gia đình, có con em đỗ đạt là một niềm vinh dự lớn. Tên tuổi người đỗ có thể được ghi trong gia phả, văn bia, sắc phong, bia đá hoặc lưu truyền trong ký ức làng xã. Từ đó hình thành nhiều phong tục liên quan đến khuyến học, đón người thi đỗ, dựng cổng, lập bia và tổ chức lễ vinh quy.

Mặt khác, khoa cử cũng tạo nên một cuộc cạnh tranh kéo dài và đầy áp lực. Có người đi thi nhiều lần vẫn không đỗ. Có người dành phần lớn cuộc đời cho kinh sách nhưng không bước được vào hàng quan lại. Hình tượng “ông đồ”, “sĩ tử lều chõng”, “khóa sinh hỏng thi” vì thế xuất hiện khá đậm nét trong văn học và ký ức dân gian.

Các cấp thi trong hệ thống khoa cử Việt Nam

Cách tổ chức thi cử thay đổi qua từng thời kỳ. Từ khoảng thời Lê trở về sau, con đường khoa cử thường được khái quát qua ba cấp chính là thi Hương, thi Hội và thi Đình.

Kỳ thi Không gian tổ chức Đối tượng chính Ý nghĩa
Thi Hương Các trường thi ở địa phương Người học đã qua khảo hạch và đủ điều kiện Tuyển người có học lực để bước vào các kỳ thi cao hơn
Thi Hội Kinh đô, do triều đình tổ chức Những người đã đỗ bậc tương ứng ở thi Hương Lựa chọn người đủ trình độ vào kỳ thi cao nhất
Thi Đình Trong khu vực cung đình Những người đã trúng cách ở thi Hội Xếp thứ bậc và ban học vị tiến sĩ

Bảng trên chỉ mang tính khái quát. Danh hiệu và thể lệ không hoàn toàn giống nhau giữa các triều đại.

Dưới triều Nguyễn, từ năm 1825, người đỗ bậc cao trong thi Hương được gọi là cử nhân, người đỗ bậc dưới được gọi là tú tài. Trước đó, những danh xưng như hương cống và sinh đồ từng được sử dụng. Triều Nguyễn cũng đặt thêm danh hiệu phó bảng từ năm 1829.

Thi Hương

Thi Hương là kỳ thi diễn ra tại các trường thi địa phương. Nhiều tỉnh có thể cùng tham gia một trường thi. Đây là cấp thi tập trung số lượng sĩ tử đông nhất và cũng là nơi xuất hiện hình ảnh “lều chõng” quen thuộc.

Ở nhiều thời kỳ, thi Hương gồm nhiều vòng hoặc nhiều “trường”. Sĩ tử phải vượt qua từng vòng mới được tiếp tục làm bài ở vòng sau. Nội dung thi có thể gồm kinh nghĩa, thơ phú, chiếu, chế, biểu, văn sách và những dạng bài khác tùy theo quy định từng triều đại.

Sĩ tử phải trải qua khảo hạch ở địa phương, khai báo lý lịch và được xác nhận đủ điều kiện trước khi vào trường thi. Không phải bất cứ ai biết chữ Hán cũng có thể tự do đến dự thi.

Thi Hội

Thi Hội được tổ chức ở kinh đô, dành cho những người đã có học vị và đủ tư cách dự thi. So với thi Hương, số thí sinh thi Hội ít hơn nhưng yêu cầu học thuật cao hơn.

Kỳ thi này do triều đình tổ chức, thường có các quan được cử làm Đề điệu, Tri cống cử, Giám thí, Đồng khảo và nhiều chức trách khác. Những người trúng cách ở thi Hội mới được bước vào kỳ thi Đình.

Thi Đình

Thi Đình, còn gọi là Điện thí, là kỳ thi cao nhất. Dưới thời Lê, kỳ thi này thường diễn ra trong Hoàng thành Thăng Long, trước điện Kính Thiên. Nhà vua giữ vai trò chủ trì, ra đề hoặc xem xét kết quả, bên cạnh hệ thống quan viên phụ trách tổ chức và chấm thi.

Khác với hình dung rằng thi Đình tiếp tục loại rất nhiều thí sinh, những người vào được kỳ thi này vốn đã vượt qua thi Hội. Thi Đình chủ yếu nhằm phân định thứ bậc cao thấp trong hàng những người đã trúng cách.

Các danh hiệu như Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa thuộc hàng Tam khôi được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, không phải triều đại nào cũng đặt đủ các danh hiệu này. Nhà Nguyễn không lấy danh hiệu Trạng nguyên; người đứng đầu khoa thi có thể mang học vị Đình nguyên nhưng không được gọi là Trạng nguyên theo chế độ của triều đại trước.

Hình ảnh trường thi Việt Nam ngày xưa

Trường thi là một khu vực rộng và có hàng rào nghiêm ngặt

Qua ảnh tư liệu cuối thế kỷ XIX, trường thi hiện ra không giống một phòng học có bàn ghế như ngày nay. Đó thường là một khu đất rộng, được phân chia thành nhiều khu vực bằng hàng rào, cổng, lối đi và các công trình tạm.

Ở trung tâm hoặc những vị trí quan trọng có các nhà dành cho quan trường, nơi làm việc của bộ phận thu quyển, chấm bài và bảo quản bài thi. Xung quanh là những khu vực dành cho sĩ tử.

Trường thi phải đủ rộng để bố trí hàng nghìn người nhưng cũng phải bảo đảm mỗi sĩ tử có một khoảng riêng, hạn chế việc trao đổi và sao chép bài. Vì vậy, các vị trí làm bài thường được đánh dấu hoặc chia thành từng ô.

Trong ảnh chụp trường thi Nam Định, người xem có thể nhận ra cổng trường, nhà ngói, các dãy kiến trúc tạm, cột cờ và những đài quan sát dựng cao. Những yếu tố này cho thấy kỳ thi không chỉ là hoạt động học thuật mà còn là một sự kiện hành chính có quy mô lớn.

Chòi canh và vọng gác

Một chi tiết nổi bật trong nhiều ảnh là những chòi cao bằng gỗ. Người đứng trên chòi có thể quan sát một khu vực rộng của trường thi, phát hiện sự di chuyển bất thường hoặc hành vi vi phạm trường quy.

Các chòi canh còn giúp truyền lệnh bằng tiếng trống, tiếng loa hoặc các tín hiệu khác. Trong một không gian có hàng nghìn sĩ tử, việc điều hành giờ vào trường, giờ phát đề, giờ thu bài và đóng mở cổng đòi hỏi hệ thống hiệu lệnh thống nhất.

Nhìn từ góc độ ngày nay, những chòi gỗ giữa trường thi tạo cảm giác khá khắc nghiệt. Sĩ tử ngồi thấp dưới mặt đất, trong khi người giám sát đứng trên cao. Cách bố trí ấy phản ánh yêu cầu kiểm soát rất chặt chẽ của các khoa thi.

Cờ, biển và nghi trượng

Ảnh trường thi thường xuất hiện nhiều cờ, biển, lọng và đồ nghi trượng. Đây không chỉ là vật trang trí mà còn giúp xác định khu vực, chức trách hoặc vị trí của các quan phụ trách.

Màu sắc thật của những lá cờ không thể hiện trong ảnh đen trắng. Tuy nhiên, số lượng cờ và cách bố trí cho thấy tính nghi lễ rất cao của kỳ thi. Triều đình coi việc tuyển chọn nhân tài là công việc quan trọng của quốc gia, bởi vậy lễ khai trường, truyền lệnh và xướng danh đều được tiến hành theo quy định.

Hình ảnh sĩ tử lều chõng đi thi

Vì sao gọi là “lều chõng”?

“Lều chõng” là cách nói gợi lên hành trang của sĩ tử khi vào trường thi.

Lều là vật dùng để che mưa nắng hoặc tạo một khoảng ngồi tương đối riêng. Chõng là loại giường hoặc phản nhỏ, thường làm bằng tre, có thể dùng làm chỗ ngồi, chỗ nằm và mặt kê để viết.

Khi chưa có hệ thống phòng thi kiên cố, sĩ tử phải mang theo khá nhiều vật dụng để tự bố trí nơi làm bài. Ngoài lều và chõng, họ còn phải chuẩn bị bút, nghiên, mực, giấy tờ, ống đựng quyển, thức ăn, nước uống, áo quần và những đồ dùng cần thiết khác.

Qua các bức ảnh, hành trang ấy có thể được buộc thành bó, đeo trên vai hoặc nhờ người nhà vận chuyển đến gần trường thi. Khi chính thức vào trong, sĩ tử phải tuân theo quy định kiểm tra và chỉ được mang những vật dụng cho phép.

Dáng vẻ sĩ tử trước cổng trường

Một trong những hình ảnh gây ấn tượng mạnh là đám đông sĩ tử tập trung trước cổng. Người mặc áo dài, người đội khăn, người mang nón, người che ô. Lều, chõng, túi vải và đồ dùng chen lẫn giữa biển người.

Không khí ấy khác hẳn vẻ trang nghiêm thường thấy trong tranh vẽ cảnh đỗ đạt. Trước khi có tên trên bảng vàng, người đi thi phải trải qua cảnh chờ đợi, chen chúc và mệt mỏi.

Trong thơ văn cuối thế kỷ XIX, hình ảnh sĩ tử trường thi đôi khi được miêu tả với vẻ lôi thôi, vất vả. Đó không chỉ là sự châm biếm cá nhân mà còn phản ánh sự xuống cấp và biến động của khoa cử Nho học trong buổi giao thời.

Sĩ tử ngồi làm bài trong lều

Mỗi sĩ tử thường làm bài trong một khu vực riêng. Không có bàn ghế cao, phòng kín hay ánh sáng ổn định. Họ phải ngồi trên chõng hoặc chiếu, cúi người viết trên mặt kê thấp.

Thời tiết là một thử thách lớn. Nếu trời nắng, khu trường thi có thể trở nên nóng bức. Nếu gặp mưa, nền đất lầy lội, lều có thể bị dột và quyển thi có nguy cơ hư hỏng.

Việc làm bài bằng bút lông cũng đòi hỏi sự cẩn thận. Chỉ một vết mực, một chữ viết sai, một lỗi trình bày hoặc vi phạm quy định về chữ húy cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả.

Người nhà tiễn sĩ tử

Ảnh chụp bên ngoài trường thi còn cho thấy sự hiện diện đông đảo của người thân, người phục vụ, người bán hàng và dân chúng đến xem.

Đối với những sĩ tử từ xa tới, chuyến đi thi có thể kéo dài nhiều ngày. Gia đình phải chuẩn bị tiền đường, thức ăn, chỗ ở và hành lý. Có người nhà đi cùng để chăm lo sinh hoạt trước khi sĩ tử vào trường.

Bởi vậy, kỳ thi Hương không chỉ tác động đến người dự thi mà còn làm thay đổi nhịp sống của cả đô thị nơi đặt trường thi. Quán trọ đông khách hơn, đường sá nhộn nhịp hơn, hàng quán và dịch vụ cũng tập trung quanh khu vực trường thi.

Hình ảnh quan trường và đội ngũ phục vụ kỳ thi

Quan chủ khảo trong phẩm phục

Trong bộ ảnh khoa thi Hương năm 1897, các quan trường xuất hiện với áo dài nghi lễ, mũ quan và lọng che. Họ thường ngồi hoặc đứng ở vị trí trung tâm, xung quanh có người hầu, lính lệ và các viên chức phụ trách từng công việc.

Trang phục của quan trường khác rõ rệt so với áo quần giản dị của phần lớn sĩ tử. Sự khác biệt ấy thể hiện trật tự phẩm cấp trong xã hội quân chủ.

Quan trường không chỉ có nhiệm vụ quan sát sĩ tử. Một khoa thi lớn cần nhiều bộ phận phối hợp, từ tiếp nhận hồ sơ, gọi tên, kiểm tra vật dụng, phát đề, thu bài đến niêm phong và tổ chức chấm thi.

Các chức trách trong trường thi

Tùy từng thời kỳ, hệ thống quan trường có nhiều chức danh. Ngoài người đứng đầu kỳ thi còn có những người phụ trách thu quyển, niêm phong, đánh số, rọc phách, sao chép bài, đối chiếu bản chép và bảo vệ trường thi.

Việc chép lại bài thi là một biện pháp nhằm hạn chế khả năng người chấm nhận ra nét chữ của thí sinh. Sau khi bài được niêm phong và đánh ký hiệu, bộ phận đằng lục chép nội dung sang một bản khác, bộ phận đối độc kiểm tra giữa bản gốc và bản chép rồi mới chuyển cho người chấm.

Quy trình này cho thấy người xưa đã có ý thức xây dựng các lớp kiểm soát để giảm gian lận và sự thiên vị. Dù hiệu quả thực tế có thể khác nhau giữa từng khoa thi, hệ thống thủ tục vẫn rất phức tạp.

Lính lệ và người bảo vệ trường thi

Trong ảnh, lính lệ thường đứng ở cổng, dọc lối đi hoặc quanh khu vực quan trường. Họ làm nhiệm vụ giữ trật tự, ngăn người không có phận sự vào trường và xử lý trường hợp vi phạm.

Khi sĩ tử vào cổng, đồ dùng có thể bị khám xét để phát hiện tài liệu cấm. Việc mang sách, văn mẫu hoặc giấy ghi chép trái phép được xem là hành vi gian lận nghiêm trọng.

Hình ảnh hàng lính, cổng đóng và chòi canh cao khiến trường thi mang dáng dấp của một khu vực được bảo vệ đặc biệt hơn là một lớp học thông thường.

Những quy định khắt khe trong trường thi

Khai báo lý lịch

Trước khi dự thi, sĩ tử phải khai báo họ tên, quê quán, tuổi tác, học vị và nhiều thông tin liên quan. Trong một số giai đoạn, lý lịch gia đình cũng được xem xét để xác định người đó có đủ tư cách dự thi hay không.

Quy định cụ thể thay đổi theo từng triều đại. Tuy nhiên, việc dự thi nhìn chung không hoàn toàn dựa trên năng lực làm bài mà còn gắn với những điều kiện pháp lý và xã hội do nhà nước đặt ra.

Ở khoa thi Hội cuối cùng năm 1919, thí sinh vẫn phải ghi các thông tin như họ tên, bằng cấp, nghề nghiệp, tuổi, nguyên quán và dòng dõi vào quyển thi trước khi chuyển cho cơ quan phụ trách.

Kiểm tra đồ dùng

Sĩ tử phải mang theo nhiều vật dụng nhưng không được phép mang tài liệu vào trường. Việc kiểm tra có thể diễn ra ngay tại cổng hoặc trước khi thí sinh vào vị trí.

Trong thực tế, vẫn có người tìm cách giấu tài liệu bằng nhiều phương thức. Những câu chuyện về “phao thi” được chép trên áo, trên giấy nhỏ hoặc giấu trong vật dụng cho thấy gian lận không phải vấn đề chỉ có ở thời hiện đại.

Hình phạt dành cho người vi phạm có thể rất nặng, từ đánh trượt, cấm thi đến xử phạt thân thể hoặc truy cứu trách nhiệm tùy mức độ và từng thời kỳ.

Quy định về chữ húy và thể thức

Bài thi không chỉ được đánh giá ở nội dung. Sĩ tử còn phải tuân thủ các quy định về chữ húy, cách viết, cách đặt dòng, số chữ, thể văn và trình bày.

Chữ húy thường liên quan đến tên của vua, hoàng hậu, tổ tiên nhà vua, cung điện, lăng miếu hoặc những danh xưng được triều đình quy định phải tránh. Khi gặp những chữ cần tôn kính, người viết có thể phải đổi dòng hoặc nâng chữ theo thể thức.

Các lỗi như không tránh chữ húy, viết thiếu trang trọng hoặc đặt chữ tôn kính không đúng vị trí có thể khiến bài thi bị đánh lỗi, dù phần lập luận có giá trị.

Điều này cho thấy thi cử thời quân chủ vừa kiểm tra tri thức, vừa kiểm tra khả năng tuân thủ trật tự lễ nghi và quy phạm văn chương chính thống.

Các hình ảnh tiêu biểu trong một khoa thi Hương

Cảnh tập trung và gọi tên

Trước khi mở cổng, sĩ tử tập trung thành một đám đông lớn. Quan trường hoặc người phụ trách gọi tên theo danh sách. Mỗi người phải xác nhận thân phận trước khi được vào khu vực thi.

Trong ảnh chụp từ trên cao, biển người cùng nón, ô và hành lý tạo thành một khung cảnh dày đặc. Giữa đám đông có các lối đi hẹp dẫn về phía cổng trường.

Đây là một trong những hình ảnh chân thực nhất về quy mô của thi Hương. Kỳ thi không dành cho vài chục người mà có thể thu hút hàng nghìn sĩ tử từ nhiều địa phương.

Cảnh sĩ tử qua cổng

Sau khi được gọi tên, sĩ tử mang hành trang đi qua cổng dưới sự giám sát của lính lệ. Có người vác đồ trên vai, có người ôm túi hoặc cầm ống quyển.

Cánh cổng là ranh giới giữa không gian đời thường và trường quy nghiêm ngặt. Khi đã vào trường, sĩ tử bị hạn chế đi lại và không được tiếp xúc tùy tiện với người ngoài.

Cảnh dựng lều và sắp xếp chỗ ngồi

Sĩ tử tìm đúng vị trí được quy định rồi dựng lều, đặt chõng, chuẩn bị nghiên mực và giấy bút. Hàng nghìn chiếc lều nhỏ phân bố trên bãi đất tạo nên một cảnh tượng đặc biệt.

Từ xa, trường thi có thể trông giống một khu trại tạm. Nhưng bên trong mỗi lều là một người đang đối diện với bài thi có khả năng quyết định nhiều năm học tập và tương lai của mình.

Cảnh truyền đề

Đề thi được chuyển vào trường theo một quy trình có bảo vệ. Người phụ trách phân phát đề đến từng khu vực. Trống, loa hoặc hiệu lệnh được sử dụng để thông báo thời điểm bắt đầu.

Đề thi phải được giữ kín trước giờ mở. Việc làm lộ đề hoặc thông đồng với sĩ tử bị xem là vi phạm nghiêm trọng không chỉ đối với thí sinh mà cả với quan trường.

Cảnh làm bài

Khi trường thi yên xuống, mỗi sĩ tử tập trung vào quyển thi. Họ nghiền mực, chấm bút và viết chữ Hán theo hàng dọc.

Không có đồng hồ cá nhân như ngày nay, sĩ tử theo dõi thời gian qua các hiệu lệnh chung. Mỗi bài làm phải hoàn tất trước giờ thu quyển.

Vẻ im lặng của trường thi tương phản với cảnh đông đúc bên ngoài. Trong hàng nghìn người dự thi, chỉ một tỷ lệ nhỏ có thể đạt học vị cao.

Cảnh thu quyển và niêm phong

Khi hết giờ, bài thi được thu lại. Sĩ tử không thể tự ý giữ hoặc sửa bài sau hiệu lệnh.

Quyển thi được kiểm đếm, niêm phong và chuyển qua các bộ phận phụ trách. Tên tuổi thí sinh được che hoặc tách khỏi phần nội dung nhằm hạn chế việc nhận diện người làm bài.

Đây là công đoạn ít xuất hiện rõ trong ảnh chụp nhưng được phản ánh trong tài liệu hành chính và quy chế trường thi.

Cảnh chờ kết quả

Sau kỳ thi, sĩ tử trở về nơi trọ hoặc quê nhà chờ ngày công bố kết quả. Sự chờ đợi có thể kéo dài trong tâm trạng căng thẳng.

Với nhiều người, một khoa thi thất bại đồng nghĩa phải chờ thêm nhiều năm mới có cơ hội dự kỳ tiếp theo. Có người tiếp tục dù tuổi đã cao; có người từ bỏ con đường khoa cử để dạy học, làm thuốc hoặc sống bằng nghề khác.

Cảnh xướng danh

Xướng danh là nghi thức công bố tên người thi đỗ. Đây là khoảnh khắc được sĩ tử và gia đình chờ đợi nhất.

Tên người đỗ được đọc công khai theo thứ bậc. Đám đông tập trung nghe kết quả, tạo nên cảnh vừa trang trọng vừa náo nhiệt. Người đỗ vui mừng, còn phần lớn người không có tên phải lặng lẽ ra về.

Trong khoa thi Đinh Dậu 1897, cảnh trường Nam đã đi vào thơ Tú Xương với những câu miêu tả sĩ tử, quan trường và sự hiện diện của viên chức thuộc địa. Qua đó, khoa thi không chỉ được lưu lại bằng ảnh mà còn trở thành biểu tượng văn học của một thời kỳ nhiều biến động.

Khoa thi Hương năm 1897 diễn ra trong bối cảnh nào?

Năm 1897 thuộc triều vua Thành Thái. Về danh nghĩa, khoa thi vẫn được tổ chức theo hệ thống của triều Nguyễn. Tuy nhiên, Bắc Kỳ khi ấy đã nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền bảo hộ Pháp.

Khoa thi tại Nam Định vì thế mang nhiều dấu hiệu của một giai đoạn chuyển tiếp. Trong cùng một không gian có thể thấy quan lại triều Nguyễn mặc phẩm phục truyền thống, lính lệ người Việt, các viên chức Pháp và những yếu tố kiến trúc hoặc kỹ thuật mới.

Trường thi Hà Nội và Nam Định từng có những lần điều chỉnh, hợp nhất trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Nghiên cứu về hai trường thi cho thấy khoa cử thời Nguyễn không đứng ngoài những thay đổi chính trị, hành chính và văn hóa của xã hội đương thời.

Một khoa thi truyền thống dưới sự quan sát của người Pháp

Sự xuất hiện của các quan chức Pháp trong lễ nghi khoa thi cho thấy quyền lực của triều đình đã bị hạn chế. Khoa cử Nho học vẫn được duy trì nhưng không còn giữ vị trí độc tôn trong việc đào tạo và tuyển dụng nhân lực.

Bên cạnh chữ Hán và nền học vấn kinh điển, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ và hệ thống trường học mới từng bước phát triển. Những người theo đuổi con đường Nho học phải đối diện với thực tế rằng học vị truyền thống không còn bảo đảm một con đường quan chức như trước.

Giá trị đặc biệt của các bức ảnh

Các bức ảnh của André Salles không chỉ ghi lại con người mà còn bảo tồn nhiều chi tiết khó hình dung nếu chỉ đọc văn bản:

  • Cách sĩ tử mang lều chõng.
  • Hình dáng chòi canh.
  • Quy mô đám đông.
  • Trang phục quan trường.
  • Lọng, cờ và nghi trượng.
  • Kiến trúc khu vực trường thi.
  • Sự hiện diện của người dân quanh trường.
  • Tình trạng đường sá và mặt đất.
  • Khoảng cách giữa nghi lễ trang trọng và đời sống thực tế.

Nhờ ảnh chụp, câu chuyện khoa cử không còn chỉ là danh sách các khoa thi và người đỗ. Người xem có thể cảm nhận được sự chật chội, bụi bặm, mệt mỏi và náo nhiệt của một sự kiện có hàng nghìn người tham gia.

Trang phục của sĩ tử và quan trường

Trang phục sĩ tử

Phần lớn sĩ tử mặc áo dài tối màu, quần sáng hoặc trang phục thông dụng của người học chữ cuối thế kỷ XIX. Một số người đội khăn, một số đội nón để tránh mưa nắng.

Không có một kiểu “đồng phục thí sinh” hoàn toàn giống nhau. Trang phục phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, vùng miền, thời tiết và quy định từng trường thi.

Những người có điều kiện có thể mặc áo vải tốt, mang hành trang đầy đủ. Sĩ tử nghèo thường phải tiết kiệm, dùng đồ tre nứa đơn giản và tự lo phần lớn sinh hoạt trong những ngày thi.

Trang phục quan trường

Quan trường mặc phẩm phục theo cấp bậc và tính chất nghi lễ. Áo có hoa văn, mũ quan và các đồ nghi trượng giúp phân biệt họ với sĩ tử, lính lệ và dân chúng.

Trong một số ảnh, các quan ngồi thành hàng dưới mái nhà hoặc trước sân, phía sau có người cầm lọng. Cách sắp xếp vị trí thể hiện phẩm trật và vai trò của từng người trong hội đồng thi.

Tuy nhiên, không nên xác định phẩm hàm cụ thể của từng nhân vật chỉ dựa vào một ảnh đen trắng không rõ chú thích. Việc nhận diện cần kết hợp tài liệu gốc, dòng chú thích của người chụp và nghiên cứu về trang phục triều Nguyễn.

Thi cử xưa có thật sự công bằng?

Khoa cử được xây dựng với mục tiêu lựa chọn người có học vấn bằng bài thi. Các biện pháp như niêm phong, rọc phách, sao chép bài và phân công nhiều tầng chấm thi cho thấy triều đình từng cố gắng hạn chế thiên vị.

So với hình thức tiến cử chỉ dựa vào xuất thân hoặc quan hệ, thi cử mở ra cơ hội nhất định cho những người không thuộc hoàng tộc hay gia đình quyền quý. Nhiều người xuất thân từ làng quê, nhờ học hành mà có thể bước vào hàng quan lại.

Tuy nhiên, không nên lý tưởng hóa khoa cử như một hệ thống hoàn toàn bình đẳng.

Để theo học trong thời gian dài, sĩ tử cần có gia đình hỗ trợ về kinh tế. Việc mua sách, học thầy, đi lại, thuê trọ và dự thi đều tốn kém. Con em những gia đình nghèo khó ít có điều kiện theo đuổi việc học đến cùng.

Phụ nữ nhìn chung không được tham gia hệ thống khoa cử chính thức để làm quan. Cơ hội học tập cũng khác biệt giữa các vùng, các nhóm xã hội và từng thời kỳ.

Ngoài ra, sử liệu còn ghi nhận những trường hợp gian lận, gửi gắm, mua chuộc hoặc quan trường làm sai quy chế. Điều đó cho thấy khoảng cách giữa quy định và thực tế vẫn tồn tại.

Vì vậy, khoa cử vừa có giá trị mở rộng con đường tuyển chọn nhân tài, vừa phản ánh những giới hạn của xã hội quân chủ.

Hình ảnh thi cử trong văn học và dân gian

Trước khi có ảnh chụp, ký ức về trường thi được lưu giữ chủ yếu qua sử sách, văn bia, thơ văn và lời kể.

Trong văn học trung đại, việc thi đỗ thường gắn với hình ảnh bảng vàng, áo mũ, ngựa xe và vinh quy bái tổ. Đây là phía rực rỡ của khoa cử: người học thành danh, gia đình được vẻ vang, quê hương có thêm người đỗ đạt.

Ngược lại, thơ văn trào phúng cuối thế kỷ XIX thường nhấn mạnh sự lộn xộn, hình thức và suy tàn của trường thi. Sĩ tử hiện lên không chỉ với chí lớn mà còn có vẻ mệt mỏi, thất vọng và lạc lõng trước sự thay đổi của thời cuộc.

Trong dân gian còn lưu truyền nhiều câu chuyện về người học nghèo, người mẹ nuôi con ăn học, người vợ tần tảo để chồng đi thi hoặc những ông đồ thi mãi không đỗ. Các câu chuyện ấy không phải lúc nào cũng là dữ kiện lịch sử về một nhân vật cụ thể, nhưng phản ánh rõ giá trị mà xã hội truyền thống dành cho chữ nghĩa và học vấn.

Không nên nhầm ảnh tư liệu với tranh phục dựng

Hiện nay, trên internet có nhiều hình ảnh được giới thiệu chung là “thi cử thời phong kiến”. Trong số đó có ảnh thật, tranh vẽ, cảnh phim, hoạt động tái hiện và cả hình được tạo bằng công nghệ số.

Để sử dụng ảnh đúng bối cảnh, cần kiểm tra ít nhất các thông tin sau:

Ảnh được chụp hay được vẽ?

Nếu là ảnh chụp, cần xác định thời điểm kỹ thuật nhiếp ảnh đã có mặt tại Việt Nam. Một bức ảnh được giới thiệu là “khoa thi thời Lý” hoặc “sĩ tử thời Trần” gần như chắc chắn không phải ảnh tư liệu gốc.

Nếu là tranh vẽ, cần ghi rõ “tranh minh họa”, “tranh phục dựng” hoặc “hình dung của họa sĩ”.

Có xác định được thời gian và địa điểm không?

Một ảnh trường thi Nam Định năm 1897 không nên dùng để chú thích là thi Đình tại kinh thành Huế. Tương tự, ảnh một vị quan trong khoa thi Hương không thể tự động được gọi là giám khảo thi Đình.

Khi chưa xác định chắc chắn, nên sử dụng chú thích thận trọng như “Hình ảnh được cho là ghi lại một khoa thi Hương cuối thế kỷ XIX”.

Có tên người chụp hay cơ quan lưu giữ không?

Tên nhiếp ảnh gia, bộ sưu tập và cơ quan lưu giữ giúp xác định nguồn gốc của ảnh. Với bộ ảnh năm 1897, tên André Salles là một thông tin quan trọng.

Ảnh có dòng chữ tiếng Pháp ở mép trên hoặc mép dưới cũng cần được đọc kỹ. Chú thích gốc có thể cho biết ngày chụp, địa điểm, chức vụ nhân vật hoặc tên nghi thức.

Ảnh có bị cắt hoặc chỉnh sửa không?

Nhiều ảnh cổ được chia sẻ dưới dạng đã cắt mất dòng chú thích. Một số ảnh được tô màu bằng tay hoặc công nghệ hiện đại.

Ảnh tô màu có thể giúp người xem dễ tiếp cận hơn nhưng màu sắc thường mang tính suy đoán. Vì vậy, không nên dựa vào bản tô màu để kết luận chính xác màu áo, cờ, lọng hay kiến trúc.

Những khoa thi cuối cùng của nhà Nguyễn

Từ đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục mới ngày càng mở rộng. Chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp được đưa vào chương trình học, trong khi vai trò của chữ Hán dần thu hẹp.

Khoa cử không biến mất trong một thời điểm duy nhất trên toàn quốc. Các trường thi ở từng khu vực được điều chỉnh hoặc chấm dứt theo những mốc khác nhau. Khoa thi Hương cuối cùng ở miền Bắc được tổ chức năm 1915. Sau đó, khoa thi Hội cuối cùng diễn ra tại Huế vào tháng 4 năm 1919.

Khoa thi năm 1919 mang nhiều dấu hiệu cải cách. Một số đối tượng dự thi phải thể hiện khả năng sử dụng không chỉ chữ Hán mà cả chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Nhà nước dựng lều cho thí sinh, thay vì để tất cả tự mang lều như hình ảnh quen thuộc của những kỳ thi trước.

Sau khoa thi này, con đường khoa cử Nho học chính thức khép lại. Những trường học mới, chương trình giáo dục mới và hình thức tuyển dụng mới dần thay thế hệ thống thi Hương, thi Hội, thi Đình.

Sự kết thúc của khoa cử không đồng nghĩa truyền thống hiếu học mất đi. Nhiều gia đình tiếp tục coi việc học là con đường quan trọng để thay đổi cuộc sống. Chỉ có nội dung học, chữ viết, trường lớp và hình thức thi cử chuyển sang một giai đoạn khác.

Giá trị lịch sử của hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa

Giúp hình dung đời sống của sĩ tử

Sử sách thường ghi tên khoa thi, số người đỗ và các quy định của triều đình. Ảnh tư liệu lại cho thấy những điều nhỏ bé nhưng gần gũi hơn: chiếc chõng tre, túi hành lý, con đường lầy, chiếc nón, đám đông trước cổng và dáng người mệt mỏi sau nhiều ngày di chuyển.

Những chi tiết ấy giúp người xem hiểu rằng thành công khoa bảng không chỉ dựa vào khả năng làm văn. Đằng sau đó còn là sức khỏe, điều kiện kinh tế, sự hỗ trợ của gia đình và khả năng chịu đựng những ngày thi vất vả.

Phản ánh tổ chức hành chính thời quân chủ

Trường thi là một bộ máy thu nhỏ với nhiều cấp phụ trách. Việc đánh số, niêm phong, sao chép và đối chiếu bài thi cho thấy hoạt động hành chính đã được tổ chức khá chi tiết.

Hình ảnh quan trường, lính lệ và chòi canh cũng phản ánh cách nhà nước kiểm soát một sự kiện có quy mô lớn.

Cho thấy xã hội Việt Nam trong buổi giao thời

Bộ ảnh cuối thế kỷ XIX ghi lại sự gặp gỡ giữa hai thế giới. Một bên là áo mũ, chữ Hán, lọng nghi trượng và lễ nghi triều Nguyễn. Bên kia là máy ảnh, kiến trúc thuộc địa, quan chức Pháp và hệ thống giáo dục mới đang hình thành.

Chính sự đan xen ấy làm cho ảnh khoa thi năm 1897 có giá trị vượt ra ngoài lịch sử giáo dục. Đó còn là tư liệu về đô thị, trang phục, giao thông, quan hệ quyền lực và biến đổi văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Gợi nhắc truyền thống trọng chữ nghĩa

Khoa cử xưa có những giới hạn cần được nhìn nhận khách quan, nhưng tinh thần coi trọng học vấn vẫn là một giá trị có ảnh hưởng lâu dài.

Nhiều làng quê xây Văn chỉ, Văn từ, lập bia ghi tên người đỗ và duy trì tục khuyến học. Gia đình dành tiền bạc cho con học chữ, cộng đồng tôn trọng thầy đồ và người có học.

Ngày nay, việc tìm hiểu hình ảnh thi cử xưa không nhằm phục hồi nguyên vẹn hệ thống khoa cử, mà giúp nhận diện nguồn gốc của truyền thống hiếu học, đồng thời suy ngẫm về sự công bằng và mục đích thực sự của giáo dục.

Cách nhìn nhận thi cử thời phong kiến ngày nay

Khi ngắm những bức ảnh sĩ tử lều chõng, người xem dễ cảm thấy khâm phục tinh thần học tập và sự bền bỉ của người xưa. Tuy nhiên, lịch sử khoa cử cần được nhìn nhận từ nhiều phía.

Đây là hệ thống từng giúp nhà nước tuyển chọn một bộ phận quan lại dựa trên học vấn, góp phần hình thành tầng lớp trí thức và tạo dựng truyền thống trọng chữ nghĩa. Nhiều nhân vật đỗ đạt đã để lại đóng góp quan trọng trong quản lý đất nước, giáo dục, sử học, văn chương và ngoại giao.

Song khoa cử cũng gắn với một chương trình học nặng về kinh điển, chịu nhiều quy phạm hình thức và chưa mở cơ hội bình đẳng cho mọi thành phần xã hội. Những người không có điều kiện học tập, phụ nữ và nhiều cộng đồng ở vùng xa ít có khả năng tham gia con đường này.

Bởi vậy, không nên chỉ ca ngợi khoa cử như một thời vàng son, cũng không nên xem toàn bộ hệ thống là lạc hậu và vô nghĩa. Giá trị lớn nhất của việc nghiên cứu nằm ở khả năng hiểu đúng hoàn cảnh lịch sử, nhận diện thành tựu, giới hạn và những bài học còn có ý nghĩa đối với giáo dục hiện nay.

Kết luận

Hình ảnh thi cử Việt Nam ngày xưa đưa người xem trở lại một không gian đặc biệt: bên ngoài trường thi là biển người, hành lý và tiếng gọi tên; bên trong là những chiếc lều nhỏ, chõng tre, nghiên mực, quyển giấy cùng sự giám sát nghiêm ngặt của quan trường.

Những bức ảnh còn lại chủ yếu được chụp vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là bộ ảnh khoa thi Hương năm 1897 tại Nam Định. Chúng không thể đại diện đầy đủ cho toàn bộ khoa cử từ thời Lý đến thời Nguyễn, nhưng là chứng tích trực quan hiếm có về những năm cuối của nền giáo dục Nho học.

Qua trường thi, sĩ tử, quan viên và nghi lễ xướng danh, người xem có thể nhận ra cả khát vọng học hành lẫn sức ép nặng nề của con đường khoa bảng. Đó là một phần quan trọng trong lịch sử giáo dục, văn hóa và đời sống tinh thần Việt Nam, cần được gìn giữ, chú thích đúng bối cảnh và giới thiệu bằng thái độ khách quan, trân trọng.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.465 bài viết của Chi Tran
Bài viết cùng chuyên mục

Để lại bình luận