Đình Ngũ Xã quận Ba Đình, Hà Nội

Đình Ngũ Xã ở Ba Đình thờ Tổ nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không, lưu giữ kiến trúc, sắc phong và ký ức làng nghề Thăng Long.

Giữa khu phố nhỏ nằm bên hồ Trúc Bạch, Đình Ngũ Xã là một dấu tích đặc biệt của đời sống làng xã Thăng Long. Ngôi đình không chỉ là nơi thờ phụng và hội họp của cư dân địa phương mà còn gắn chặt với quá trình hình thành, phát triển của nghề đúc đồng Ngũ Xã – một trong những nghề thủ công nổi tiếng nhất của kinh thành xưa.

Khác với nhiều đình làng được dựng giữa không gian nông nghiệp rộng lớn, Đình Ngũ Xã ngày nay nằm giữa khu dân cư nội đô đông đúc. Phía ngoài là đường phố, nhà hàng và không gian ẩm thực ven hồ; phía trong vẫn duy trì một khoảng lắng của kiến trúc truyền thống với nghi môn, mái ngói, kết cấu gỗ, hoành phi, câu đối và nơi thờ Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng.

Tên bài viết sử dụng cách gọi quen thuộc “quận Ba Đình”. Tuy nhiên, theo địa giới hành chính hiện nay, đình có địa chỉ tại số 16 phố Nguyễn Khắc Hiếu, phường Ba Đình, thành phố Hà Nội. Phường Ba Đình mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ phường Trúc Bạch cũ cùng một số phường và khu vực lân cận.

Thông tin khái quát về Đình Ngũ Xã

Tên chữ của đình là Ngũ Xã Từ, tên thường gọi là Đình Ngũ Xã. Đây là nơi thờ chính Thiền sư Nguyễn Minh Không, người được cộng đồng thợ đúc đồng Ngũ Xã suy tôn là Đức Thánh Tổ của nghề.

Một số thông tin cơ bản về di tích gồm:

Nội dung Thông tin
Tên thường gọi Đình Ngũ Xã
Tên chữ Ngũ Xã Từ
Địa chỉ hiện nay Số 16 phố Nguyễn Khắc Hiếu, phường Ba Đình, Hà Nội
Địa chỉ trước sắp xếp hành chính Phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội
Năm khởi dựng được ghi nhận Năm 1796, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4
Đối tượng thờ chính Thiền sư Nguyễn Minh Không – Tổ nghề đúc đồng
Bố cục chính Nghi môn, tiền tế và hậu cung, liên kết theo dạng chữ Đinh
Xếp hạng Di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, xếp hạng năm 1993
Ngày hội truyền thống Chính hội vào ngày 17 tháng Giêng âm lịch

Thông tin giới thiệu của địa phương xác định đình được khởi dựng năm Bính Thìn 1796, tương ứng niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4. Cụm đình, chùa Ngũ Xã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1993.

Đình Ngũ Xã nằm ở đâu?

Đình tọa lạc tại số 16 phố Nguyễn Khắc Hiếu, trong khu vực thường được gọi là Đảo Ngọc Ngũ Xã hoặc bán đảo Trúc Bạch. Đây là khoảng đất được bao quanh phần lớn bởi mặt nước hồ Trúc Bạch, kết nối với các phố Trấn Vũ, Nam Tràng, Ngũ Xã, Nguyễn Khắc Hiếu, Lạc Chính và Trần Tế Xương.

Đình Ngũ Xã quận Ba Đình, Hà Nội

Trước khi thực hiện việc sắp xếp đơn vị hành chính, di tích thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình. Theo địa giới hiện hành, toàn bộ phường Trúc Bạch cũ đã được nhập vào phường Ba Đình mới. Vì vậy, địa chỉ phù hợp để sử dụng hiện nay là: Đình Ngũ Xã, số 16 phố Nguyễn Khắc Hiếu, phường Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đình nằm gần chùa Ngũ Xã, nhưng hai cơ sở có địa chỉ và chức năng tín ngưỡng khác nhau. Chùa Ngũ Xã, tên chữ là Thần Quang tự, nằm tại số 44 phố Ngũ Xã. Chùa là cơ sở Phật giáo, nổi tiếng với pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng; còn đình là không gian tín ngưỡng cộng đồng, lấy việc thờ Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng làm trung tâm.

Ngày nay, khu vực xung quanh đình đã trở thành một không gian đô thị và du lịch sôi động. Khu phố ẩm thực đêm kết hợp đi bộ Đảo Ngọc – Ngũ Xã được khai trương cuối năm 2022. Năm 2024, Đảo Ngọc – Trúc Bạch được công nhận là điểm du lịch của thành phố Hà Nội. Trong bối cảnh đó, Đình Ngũ Xã tiếp tục giữ vai trò là một điểm neo văn hóa, nhắc nhớ rằng phía sau những quán ăn và tuyến phố hiện đại là lịch sử lâu đời của một cộng đồng thợ thủ công.

Nguồn gốc tên gọi Ngũ Xã

Tên gọi “Ngũ Xã” có nghĩa là năm xã hoặc năm làng. Tên này bắt nguồn từ việc những người lập nên phường nghề tại đây vốn xuất thân từ năm làng có truyền thống đúc đồng.

Các tên làng thường được ghi nhận gồm:

  • Đông Mai;
  • Châu Mỹ;
  • Long Thượng hoặc Lộng Thượng;
  • Đào Viên, một số tư liệu ghi thêm tên Thái Ty;
  • Điện Tiền.

Các địa phương này thuộc vùng huyện Siêu Loại xưa, tương ứng với một phần khu vực Thuận Thành của Bắc Ninh và Văn Lâm của Hưng Yên ngày nay. Những người thợ rời quê, về kinh thành lập nghiệp, mở lò đúc và cùng nhau xây dựng một cộng đồng mới bên hồ Trúc Bạch. Nơi cư trú và sản xuất của họ được gọi là Ngũ Xã Tràng, có thể hiểu là trường hoặc phường đúc của năm xã.

Tư liệu hiện có chưa hoàn toàn thống nhất về thời điểm khởi đầu của cộng đồng Ngũ Xã. Một số nguồn đặt quá trình hình thành làng nghề vào thời Lê, khoảng thế kỷ XV; trong khi một số tài liệu giới thiệu di tích cho rằng sự tụ cư rõ nét của các nhóm thợ diễn ra vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII. Dù khác nhau về niên đại cụ thể, các nguồn đều thống nhất rằng Ngũ Xã được hình thành bởi những người thợ từ năm làng nghề đến Thăng Long sinh sống và làm nghề đúc đồng.

Việc giữ lại hai chữ “Ngũ Xã” trong tên làng và tên đình thể hiện tâm thức hướng về nguồn cội của những người đi lập nghiệp xa quê. Họ cùng sống trong một địa bàn mới nhưng vẫn ý thức rằng kỹ năng nghề nghiệp, phong tục và quan hệ cộng đồng được mang đến từ nhiều quê gốc khác nhau.

Đình làng vì thế không chỉ đại diện cho một đơn vị cư trú. Đây còn là nơi liên kết những nhóm thợ có xuất thân khác nhau thành một cộng đồng nghề nghiệp chung.

Quá trình hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã

Từ những người thợ quê đến phường nghề giữa kinh thành

Trong xã hội truyền thống, thợ thủ công thường tập trung thành phường hoặc tràng nghề. Việc sống gần nhau giúp họ thuận tiện trao đổi nguyên liệu, truyền dạy kỹ thuật, chia sẻ dụng cụ và phối hợp thực hiện những sản phẩm lớn.

Những người thợ đúc đồng từ năm xã khi đến vùng ven hồ Trúc Bạch đã lựa chọn nơi đây làm địa bàn cư trú và sản xuất. Vào thời điểm đó, khu vực này nằm gần trung tâm kinh thành nhưng vẫn có khoảng đất phù hợp để dựng lò, tập kết nhiên liệu và thực hiện những công đoạn đúc cần nhiệt độ cao.

Sản phẩm của thợ Ngũ Xã khá đa dạng, gồm nồi, sanh, đỉnh, lư hương, chuông, tượng, đồ tế khí và nhiều vật dụng bằng đồng khác. Một số tư liệu còn đề cập việc thợ Ngũ Xã tham gia đúc tiền đồng phục vụ triều đình.

Lửa lò đúc từng là hình ảnh đặc trưng của khu vực này. Cảnh sản xuất nhộn nhịp được nhắc đến trong câu “Lửa đóm ghen Ngũ Xã xây lò” của bài phú thường được biết đến với tên Tụng Tây Hồ. Hình ảnh ấy gợi nên ánh lửa đỏ rực từ những lò đồng hoạt động trong đêm, biểu hiện sức sống của một phường nghề thủ công giữa Thăng Long.

Một trong những nghề thủ công tiêu biểu của Thăng Long

Nghề đúc đồng Ngũ Xã thường được đặt bên cạnh những nghề thủ công nổi tiếng khác qua câu ca lưu truyền:

Lĩnh hoa Yên Thái
Đồ gốm Bát Tràng
Thợ vàng Định Công
Thợ đồng Ngũ Xã.

Câu ca không phải là tài liệu xác định niên đại hay quy mô sản xuất, nhưng phản ánh ký ức dân gian về vị trí của bốn nghề nổi tiếng quanh kinh thành. Trong đó, Ngũ Xã đại diện cho kỹ thuật luyện kim và đúc đồng.

Đúc đồng là một công việc phức tạp. Người thợ phải biết tạo mẫu, làm khuôn, tính tỷ lệ nguyên liệu, điều khiển nhiệt độ, rót đồng, phá khuôn, sửa nguội và hoàn thiện bề mặt. Mỗi loại sản phẩm lại đặt ra yêu cầu khác nhau. Chuông cần có âm thanh trong và vang; tượng cần đường nét chính xác, hình khối cân đối; đồ thờ phải bảo đảm cả công năng lẫn vẻ trang nghiêm.

Sản phẩm cỡ lớn càng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ. Chỉ một sai lệch nhỏ ở khuôn, nhiệt độ hoặc thời điểm rót đồng cũng có thể làm hỏng toàn bộ công trình. Bởi vậy, kỹ thuật đúc không chỉ là lao động chân tay mà còn chứa đựng kinh nghiệm về vật liệu, hình học, nhiệt và mỹ thuật được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Những tác phẩm làm nên danh tiếng Ngũ Xã

Tên tuổi thợ đồng Ngũ Xã thường được nhắc đến cùng những tác phẩm lớn tại Hà Nội. Tiêu biểu là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh và pho tượng Phật A Di Đà tại chùa Ngũ Xã.

Pho tượng Phật A Di Đà ở chùa Ngũ Xã được đúc bằng phương pháp thủ công trong giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1952. Tượng cao khoảng 3,95 m, đặt trên tòa sen cao khoảng 1,45 m, tổng trọng lượng được giới thiệu ở mức hơn 12 tấn. Công trình thể hiện khả năng tạo tác tượng đồng liền khối quy mô lớn của các nghệ nhân làng nghề trong thế kỷ XX.

Tuy nhiên, khi tìm hiểu về Đình Ngũ Xã, không nên chỉ nhìn vào những sản phẩm lớn. Giá trị của làng nghề còn được thể hiện qua vô số đồ dùng, đồ thờ và vật phẩm sinh hoạt do người thợ tạo ra. Chính những sản phẩm đi vào đời sống hằng ngày mới giúp nghề được duy trì qua nhiều thế hệ.

Lịch sử xây dựng Đình Ngũ Xã

Thông tin giới thiệu chính thức của địa phương ghi nhận Đình Ngũ Xã được khởi dựng vào năm 1796, tức năm Bính Thìn, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4. Đây là giai đoạn nghề đúc đồng tại Ngũ Xã đã tương đối phát triển và cộng đồng cư dân có nhu cầu xây dựng một không gian thờ tự chung.

Việc dựng đình có thể được nhìn nhận từ ba nhu cầu chính.

Trước hết, cư dân cần một nơi thờ vị tổ được cho là đã bảo trợ và truyền nghề. Đối với người làm nghề thủ công, sự tưởng nhớ tổ nghề là cách tri ân những thế hệ đã tạo lập kỹ thuật và nền nếp nghề nghiệp.

Thứ hai, đình là nơi hội họp, bàn việc chung và tổ chức các nghi lễ của làng. Trong xã hội truyền thống, đình không chỉ có chức năng thờ tự mà còn là trung tâm điều hành và sinh hoạt cộng đồng.

Thứ ba, ngôi đình giúp củng cố mối liên hệ giữa những nhóm dân cư vốn có quê gốc khác nhau. Khi cùng góp công, góp của dựng đình và tổ chức lễ hội, họ dần hình thành ý thức về một làng Ngũ Xã thống nhất.

Trong hơn hai thế kỷ tồn tại, đình đã trải qua nhiều biến động của đời sống đô thị. Không gian sản xuất bị thu hẹp, các lò đúc dần rời khỏi khu dân cư, nghề truyền thống thay đổi theo nhu cầu thị trường. Dù vậy, đình vẫn được bảo tồn như một dấu tích của thời kỳ Ngũ Xã là phường đúc đồng sầm uất.

Đình Ngũ Xã thờ ai?

Thiền sư Nguyễn Minh Không – Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng

Đối tượng được thờ chính tại Đình Ngũ Xã là Thiền sư Nguyễn Minh Không. Ông còn được biết đến với tên Nguyễn Chí Thành, là một thiền sư nổi tiếng dưới triều Lý.

Theo các tư liệu lịch sử và truyền thống Phật giáo, Nguyễn Minh Không sống vào khoảng cuối thế kỷ XI và nửa đầu thế kỷ XII. Ông được triều đình nhà Lý phong làm Quốc sư và thường được gọi là Lý Quốc Sư.

Cuộc đời Nguyễn Minh Không được bao phủ bởi cả dữ kiện lịch sử lẫn truyền thuyết. Vì vậy, khi tìm hiểu về ông cần phân biệt giữa hai lớp tư liệu.

Việc ông là một thiền sư có ảnh hưởng dưới triều Lý và được phong Quốc sư thuộc lớp thông tin lịch sử. Trong khi đó, các câu chuyện chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông hoặc dùng phép lạ thu đồng thường được lưu truyền dưới dạng thần tích và truyền thuyết dân gian.

Trong ký ức của nhiều cộng đồng nghề, Nguyễn Minh Không còn được tôn là tổ nghề đúc đồng. Sự tôn vinh này có thể liên quan đến hình ảnh ông trong các câu chuyện về việc quyên góp, thu gom đồng và tổ chức đúc những công trình lớn.

Vì sao người Ngũ Xã suy tôn Nguyễn Minh Không?

Nguyễn Minh Không sống trước thời điểm cộng đồng Ngũ Xã được hình thành nhiều thế kỷ. Do đó, không nên hiểu rằng ông trực tiếp đến Ngũ Xã mở lò và truyền nghề cho những người lập làng theo nghĩa một sự kiện đã được chứng minh đầy đủ bằng sử liệu.

Việc suy tôn ông làm tổ nghề chủ yếu phản ánh quan niệm và truyền thống tín ngưỡng của cộng đồng thợ đúc. Trong tâm thức dân gian, Nguyễn Minh Không là người có khả năng đặc biệt liên quan đến đồng, kỹ thuật đúc và những công trình tôn giáo lớn. Hình tượng ấy phù hợp với nhu cầu tìm về một vị tổ biểu trưng cho trí tuệ, tay nghề và đạo đức của người thợ.

Tổ nghề trong văn hóa Việt Nam không phải lúc nào cũng là người đầu tiên tuyệt đối phát minh ra một kỹ thuật. Đó có thể là nhân vật có công phát triển nghề, người bảo trợ nghề hoặc một nhân vật lịch sử – tôn giáo được cộng đồng lựa chọn làm biểu tượng.

Tại Đình Ngũ Xã, sự thờ phụng Nguyễn Minh Không vì thế mang nhiều tầng ý nghĩa. Người dân vừa tưởng nhớ một thiền sư thời Lý, vừa tri ân tổ nghề, đồng thời nhắc nhở con cháu giữ gìn uy tín và đạo đức nghề nghiệp.

Các đối tượng phối thờ

Bên cạnh Nguyễn Minh Không, một số tư liệu giới thiệu di tích cho biết đình còn có việc thờ vọng Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, danh tướng Yết Kiêu và một số vị được gọi chung là Tam Thánh. Tuy nhiên, thông tin công bố hiện nay của cổng du lịch địa phương tập trung xác định Nguyễn Minh Không là đối tượng thờ chính.

Do đó, khi giới thiệu ngắn gọn về đình, cách diễn đạt phù hợp nhất là: Đình Ngũ Xã thờ Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không; trong không gian thờ tự còn có các đối tượng phối thờ theo truyền thống của cộng đồng địa phương.

Kiến trúc Đình Ngũ Xã

Ngôi đình trong không gian phố thị

Đình Ngũ Xã hiện không còn nằm giữa một làng cổ biệt lập. Xung quanh di tích là nhà ở, hàng quán và các tuyến phố nhỏ của khu Trúc Bạch. Sự phát triển đô thị làm khuôn viên đình trở nên gọn hơn so với hình dung thông thường về một ngôi đình nông thôn.

Đình Ngũ Xã quận Ba Đình, Hà Nội

Dù vậy, kiến trúc vẫn tạo ra sự chuyển tiếp rõ rệt giữa phố xá và không gian thờ tự. Từ ngoài đường bước qua nghi môn, người vào đình dần tách khỏi nhịp sống sôi động bên ngoài để tiếp cận một khoảng không trang nghiêm hơn.

Các cây xanh lâu năm, mái ngói, cửa gỗ và những mảng kiến trúc truyền thống góp phần tạo cho đình vẻ trầm mặc. Giá trị của di tích không nằm ở quy mô quá đồ sộ mà ở khả năng bảo lưu một không gian làng nghề giữa khu vực nội thành.

Bố cục hình chữ Đinh

Tổng thể kiến trúc chính của đình được bố trí theo dạng chữ Đinh, gồm tiền tế ở phía trước và hậu cung nối phía sau. Đây là dạng mặt bằng quen thuộc của nhiều đình, đền tại đồng bằng Bắc Bộ.

Nghi môn là bộ phận đánh dấu ranh giới giữa không gian đời thường và khu vực thờ tự. Qua nghi môn là sân đình, sau đó đến tòa tiền tế. Tiền tế là nơi tiến hành nghi lễ, đặt đồ tế và đón tiếp người tham dự trong những ngày lễ.

Hậu cung là khu vực thờ chính, có tính chất trang nghiêm hơn. Đây là nơi đặt bài vị, tượng thờ hoặc các đồ thờ liên quan đến Đức Thánh Tổ.

Cách tổ chức không gian theo trục từ ngoài vào trong tạo nên trình tự nghi lễ rõ ràng. Người hành lễ đi từ cổng, qua sân, đến tiền tế rồi hướng về hậu cung. Trình tự ấy thể hiện quan niệm phân cấp không gian trong kiến trúc tín ngưỡng truyền thống.

Kết cấu và trang trí nội thất

Công trình mang những đặc điểm quen thuộc của kiến trúc đình làng Bắc Bộ với mái ngói, hệ khung gỗ và các bộ phận liên kết theo lối truyền thống. Nội thất đình được trang trí bằng hoành phi, câu đối, cửa võng và nhiều đồ tế khí.

Đáng chú ý là các mảng sơn son thếp vàng tạo nên vẻ trang trọng cho không gian thờ. Trong điều kiện nhiều đình làng nội thành đã bị thu hẹp hoặc biến đổi, hệ thống trang trí còn lại tại Đình Ngũ Xã có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận diện nghệ thuật thờ tự của một cộng đồng nghề.

Các đồ thờ trong đình không chỉ phục vụ nghi lễ. Chúng còn phản ánh năng lực thẩm mỹ và kỹ thuật của người thợ địa phương. Với một làng chuyên đúc đồng, từng chân đèn, lư hương, chuông và đồ tế khí đều có thể được nhìn như sản phẩm văn hóa nghề nghiệp.

Những di vật được lưu giữ tại đình

Ba đạo sắc phong triều Nguyễn

Thông tin giới thiệu di tích cho biết Đình Ngũ Xã còn lưu giữ ba đạo sắc phong của triều Nguyễn. Các sắc có niên đại từ năm Tự Đức thứ 3, tức năm 1850, đến năm Khải Định thứ 9, tức năm 1924.

Sắc phong là văn bản do nhà vua ban để xác nhận hoặc gia phong danh hiệu cho các vị thần được cộng đồng thờ phụng. Đối với một ngôi đình, sắc phong vừa là vật thiêng vừa là nguồn tư liệu giúp nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng và quan hệ giữa làng xã với triều đình.

Việc bảo quản sắc phong đòi hỏi điều kiện phù hợp vì giấy, mực và vật liệu trang trí dễ bị ảnh hưởng bởi độ ẩm, côn trùng, ánh sáng và nhiệt độ. Giá trị của sắc phong không nên chỉ được hiểu theo khía cạnh linh thiêng; đây còn là tài liệu lịch sử cần được kiểm kê và bảo quản chuyên môn.

Chuông đồng và đồ tế khí

Đình còn lưu giữ một quả chuông đồng cổ cùng các đồ tế khí phục vụ nghi lễ. Đối với Ngũ Xã, chuông đồng mang ý nghĩa đặc biệt vì kết nối trực tiếp di tích với nghề truyền thống.

Một quả chuông không chỉ cần có hình thức cân đối mà còn phải đạt yêu cầu về âm thanh. Tỷ lệ hợp kim, độ dày thành chuông, hình dáng và kỹ thuật rót đồng đều ảnh hưởng đến tiếng chuông. Vì vậy, chuông cổ có thể cung cấp nhiều thông tin về trình độ luyện kim và kinh nghiệm âm học của người xưa.

Các hiện vật bằng đồng trong đình cũng giúp người xem hiểu rằng nghề Ngũ Xã không chỉ tạo ra tượng lớn. Đồ thờ, đồ tế và vật dụng nhỏ mới là những sản phẩm hiện diện thường xuyên trong đời sống tín ngưỡng của người Việt.

Hoành phi, câu đối và cửa võng

Hệ thống hoành phi, câu đối và cửa võng góp phần định hình vẻ trang nghiêm của nội thất đình. Nội dung chữ Hán hoặc chữ Nôm trên các hiện vật thường ca ngợi công đức thần, nhắc về truyền thống làng hoặc bày tỏ mong muốn cộng đồng bền vững.

Khi nghiên cứu các hiện vật này cần căn cứ vào bản phiên âm, dịch nghĩa và niên đại đáng tin cậy. Không nên tự diễn giải chữ cổ hoặc gán cho hiện vật những nội dung chưa được kiểm chứng.

Mối quan hệ giữa Đình Ngũ Xã và chùa Ngũ Xã

Đình và chùa nằm gần nhau, cùng gắn với lịch sử cộng đồng Ngũ Xã, nhưng không phải là một công trình duy nhất.

Đình Ngũ Xã là không gian tín ngưỡng của cộng đồng làng nghề, thờ chính Đức Thánh Tổ Nguyễn Minh Không. Chùa Ngũ Xã là cơ sở Phật giáo, tên chữ Thần Quang tự, thờ Phật và đồng thời có không gian tưởng niệm Nguyễn Minh Không.

Sự hiện diện của đình và chùa trong cùng một khu vực phản ánh sự đan xen giữa Phật giáo và tín ngưỡng làng nghề. Nguyễn Minh Không vừa được biết đến với tư cách một thiền sư, vừa được một số cộng đồng tôn làm tổ nghề. Bởi vậy, việc thờ ông xuất hiện ở cả đình và chùa không phải là điều mâu thuẫn.

Trong thực hành truyền thống, người dân có thể đến chùa lễ Phật, sau đó sang đình dâng hương tổ nghề. Tuy nhiên, nghi thức, cách bài trí và chức năng của hai nơi vẫn khác nhau. Khi tham quan, cần tránh gọi đình là chùa hoặc chỉ chú ý đến pho tượng Phật trong chùa mà bỏ qua giá trị lịch sử riêng của ngôi đình.

Cổng thông tin du lịch địa phương mô tả đình và chùa là một quần thể gần gũi, tạo nên sự kết hợp thường được khái quát bằng quan niệm “tiền Phật, hậu Thánh”. Dù cách gọi này có tính khái quát, nó giúp hình dung sự hòa hợp giữa sinh hoạt Phật giáo và tín ngưỡng cộng đồng tại Ngũ Xã.

Hội Đình Ngũ Xã vào ngày nào?

Theo tư liệu giới thiệu về di tích, hội Ngũ Xã Nam Tràng diễn ra trong khoảng từ ngày mùng 1 đến ngày 17 tháng Giêng âm lịch, trong đó ngày 17 tháng Giêng là ngày chính hội.

Đây cũng là dịp cộng đồng tổ chức hội xuân tại đình và chùa Ngũ Xã. Các hoạt động truyền thống từng được ghi nhận gồm dâng hương, tế Đức Thánh Tổ, cờ người, hát chèo và chọi gà.

Phần lễ

Phần lễ tập trung vào việc tưởng niệm Nguyễn Minh Không và tri ân tổ nghề. Nghi thức dâng hương, tế lễ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đồng thời gắn kết những gia đình có quan hệ với làng nghề.

Đối với người thợ, lễ tổ nghề còn là dịp nhìn lại trách nhiệm giữ chữ tín. Trong quan niệm truyền thống, người làm nghề không chỉ cần khéo tay mà còn phải cẩn trọng, trung thực và có ý thức bảo vệ danh tiếng chung của làng.

Việc dâng lễ không nên được hiểu như một phương thức bảo đảm chắc chắn việc làm ăn phát đạt. Ý nghĩa chính nằm ở sự tưởng nhớ, lòng biết ơn và cam kết gìn giữ những chuẩn mực tốt đẹp của nghề.

Phần hội

Các trò chơi và hình thức diễn xướng dân gian tạo nên không khí vui xuân. Cờ người, chèo và những hoạt động cộng đồng giúp ngày hội không chỉ dành cho người cao tuổi hoặc người làm lễ mà còn thu hút nhiều tầng lớp cư dân tham gia.

Trong điều kiện đô thị hiện nay, nội dung tổ chức có thể được điều chỉnh theo từng năm, phụ thuộc vào kế hoạch của địa phương, điều kiện không gian, an ninh và bảo tồn di tích. Vì vậy, ngày 17 tháng Giêng nên được hiểu là ngày hội truyền thống; chương trình cụ thể của một năm cần căn cứ vào thông báo chính thức của ban tổ chức.

Sự kết hợp với hoạt động văn hóa và ẩm thực

Những năm gần đây, khuôn viên Đình Ngũ Xã còn được sử dụng trong một số hoạt động giới thiệu văn hóa làng nghề và ẩm thực. Năm 2023, một cuộc thi mâm cỗ truyền thống và chương trình văn hóa mùa xuân được tổ chức tại đình. Các mâm cỗ được dâng lên Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng, bên cạnh hoạt động âm nhạc dân gian và tế lễ.

Sự kết hợp này cho thấy đình vẫn có khả năng tham gia vào đời sống văn hóa đương đại. Tuy nhiên, việc tổ chức sự kiện cần bảo đảm không làm ảnh hưởng đến kiến trúc, hiện vật và tính trang nghiêm của nơi thờ tự.

Đình Ngũ Xã trong đời sống cộng đồng hiện nay

Nơi lưu giữ ký ức làng nghề

Ngày nay, số lò đúc hoạt động trong khu dân cư Ngũ Xã không còn nhiều như trước. Quá trình đô thị hóa, yêu cầu về môi trường, diện tích sản xuất và thay đổi thị trường khiến nghề phải chuyển đổi.

Trong bối cảnh ấy, đình trở thành nơi lưu giữ ký ức về một giai đoạn mà tiếng búa, tiếng khuôn và ánh lửa lò đúc hiện diện trong đời sống hằng ngày. Tên đình, sắc phong, chuông đồng, đồ tế khí và lễ tổ nghề cùng tạo thành một hệ thống ký ức vật thể và phi vật thể.

Nếu chỉ bảo tồn công trình mà không kể lại câu chuyện về người thợ, di tích sẽ mất đi một phần quan trọng của ý nghĩa. Ngược lại, nếu chỉ quảng bá sản phẩm làng nghề mà không gìn giữ đình và nghi lễ, nghề cũng dễ bị tách khỏi nền tảng văn hóa đã nuôi dưỡng nó.

Không gian gắn kết người Ngũ Xã

Đình tiếp tục là nơi người dân địa phương gặp gỡ, dâng hương và tham gia những hoạt động chung. Với những gia đình đã chuyển đi nơi khác, dịp lễ hội là cơ hội trở về, nhận biết nguồn gốc và gặp lại cộng đồng cũ.

Trong xã hội hiện đại, vai trò hành chính của đình không còn như trước, nhưng chức năng gắn kết tinh thần vẫn còn giá trị. Đình giúp con người cảm nhận mình thuộc về một cộng đồng có lịch sử, có tổ nghề và có những ký ức chung.

Điểm dừng văn hóa giữa khu du lịch Trúc Bạch

Sự phát triển của không gian đi bộ, ẩm thực và du lịch quanh hồ Trúc Bạch tạo thêm cơ hội đưa Đình Ngũ Xã đến gần công chúng. Du khách có thể kết hợp tìm hiểu đình, chùa Ngũ Xã, nghề đúc đồng, cảnh quan hồ và ẩm thực địa phương trong cùng một hành trình.

Tuy nhiên, đình không nên chỉ trở thành phông nền cho hoạt động ăn uống hoặc chụp ảnh. Giá trị quan trọng nhất của nơi này là câu chuyện về một cộng đồng thợ thủ công đã góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Thăng Long – Hà Nội.

Giá trị lịch sử và văn hóa của Đình Ngũ Xã

Giá trị về lịch sử đô thị Thăng Long

Đình phản ánh quá trình những nhóm thợ thủ công từ các vùng quê tập trung về kinh thành lập nghiệp. Thăng Long không chỉ được tạo nên bởi cung điện, thành lũy và cơ quan triều đình mà còn bởi những phường nghề, chợ, bến và khu dân cư.

Ngũ Xã là một ví dụ tiêu biểu về cách người nhập cư nghề nghiệp tổ chức cuộc sống trong đô thị. Họ mang theo kỹ thuật, tín ngưỡng và quan hệ quê hương, sau đó tạo dựng một cộng đồng mới có bản sắc riêng.

Giá trị về lịch sử nghề thủ công

Các hiện vật và nghi lễ tại đình giúp nhận diện vị trí của nghề đúc đồng trong đời sống kinh thành. Nghề cung cấp đồ dùng, tiền, tượng, chuông và đồ thờ, đáp ứng cả nhu cầu sinh hoạt, tôn giáo và quản lý nhà nước.

Đình còn phản ánh cách người thợ xây dựng đạo đức nghề nghiệp quanh hình tượng tổ nghề. Sự tôn kính dành cho Nguyễn Minh Không không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là phương thức giáo dục lòng biết ơn, ý thức học nghề và trách nhiệm với sản phẩm.

Giá trị kiến trúc – nghệ thuật

Bố cục chữ Đinh, kết cấu gỗ, hệ thống hoành phi, câu đối, cửa võng và đồ tế khí tạo nên giá trị kiến trúc – nghệ thuật của đình. Các thành phần này cần được nhìn nhận trong tổng thể, thay vì chỉ chú ý đến một hiện vật riêng lẻ.

Việc cụm đình, chùa Ngũ Xã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993 khẳng định giá trị lịch sử và nghệ thuật của di tích. Danh hiệu xếp hạng đồng thời đặt ra trách nhiệm bảo vệ yếu tố gốc, kiểm soát việc tu bổ và sử dụng không gian phù hợp.

Giá trị tín ngưỡng và đạo lý

Tín ngưỡng thờ tổ nghề thể hiện đạo lý nhớ người đi trước. Người thợ hiểu rằng kiến thức mình đang có không phải xuất hiện từ một cá nhân riêng lẻ mà là kết quả tích lũy của nhiều thế hệ.

Ý nghĩa này vẫn phù hợp trong đời sống hiện đại. Tưởng nhớ tổ nghề không đồng nghĩa với trông chờ sự phù hộ thay cho lao động. Điều cốt lõi là trân trọng kỹ năng, làm việc có trách nhiệm, giữ chữ tín và tiếp tục truyền dạy những giá trị tốt đẹp.

Những lưu ý khi đến tham quan, dâng hương

Đình Ngũ Xã là nơi thờ tự và sinh hoạt cộng đồng, vì vậy người đến tham quan nên giữ trang phục lịch sự, nói chuyện vừa đủ nghe và tránh làm ảnh hưởng đến người đang hành lễ.

Không nên tự ý chạm vào sắc phong, đồ thờ, chuông cổ hoặc các cấu kiện kiến trúc. Việc chụp ảnh bên trong hậu cung và các khu vực thờ chính cần thực hiện theo hướng dẫn của người trông coi di tích.

Lễ vật dâng hương nên gọn gàng, phù hợp với phong tục và quy định tại đình. Giá trị của việc lễ không nằm ở mâm cao cỗ đầy mà ở thái độ thành kính, sự hiểu biết về lịch sử và ý thức giữ gìn không gian chung.

Khi đến vào ngày hội, du khách nên phân biệt ngày truyền thống với lịch tổ chức thực tế. Chính hội được ghi nhận vào ngày 17 tháng Giêng âm lịch, nhưng thời gian mở cửa, nghi thức và hoạt động từng năm có thể thay đổi.

Đình nằm gần khu phố ẩm thực nên vào buổi tối hoặc cuối tuần khu vực có thể đông người. Người tham quan cần chú ý nơi dừng đỗ phương tiện và tuân thủ hướng dẫn giao thông tại chỗ.

Phân biệt Đình Ngũ Xã với một số địa điểm gần đó

Đình Ngũ Xã và chùa Ngũ Xã

Đình Ngũ Xã nằm tại số 16 Nguyễn Khắc Hiếu, thờ chính Nguyễn Minh Không với tư cách Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng.

Chùa Ngũ Xã nằm tại số 44 phố Ngũ Xã, là cơ sở Phật giáo có tên chữ Thần Quang tự. Chùa nổi tiếng với pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng.

Hai nơi nằm liền kề và có quan hệ mật thiết với lịch sử làng nghề nhưng không nên gọi thay cho nhau.

Đình Ngũ Xã và làng nghề Ngũ Xã

Làng nghề Ngũ Xã là khái niệm chỉ cộng đồng cư dân, không gian cư trú và truyền thống nghề đúc đồng.

Đình Ngũ Xã là một di tích cụ thể nằm trong không gian làng nghề. Đây là trung tâm thờ tổ và sinh hoạt cộng đồng, không phải toàn bộ làng nghề.

Ngũ Xã và Đảo Ngọc – Trúc Bạch

Ngũ Xã là tên làng, tên phố và tên gọi gắn với nghề đúc đồng. Đảo Ngọc – Trúc Bạch là tên gọi hiện nay của không gian du lịch bao quanh khu vực bán đảo bên hồ.

Hoạt động ẩm thực, đi bộ và du lịch là lớp sinh hoạt mới; Đình Ngũ Xã và nghề đúc đồng là những lớp di sản hình thành từ trước đó.

Bảo tồn Đình Ngũ Xã trong bối cảnh đô thị hóa

Bảo tồn một ngôi đình giữa nội thành có nhiều khó khăn hơn so với di tích nằm trong không gian rộng. Mật độ xây dựng cao, giao thông, độ ẩm, ô nhiễm và nhu cầu sử dụng đất đều có thể ảnh hưởng đến công trình.

Việc tu bổ cần dựa trên hồ sơ khoa học, đánh giá hiện trạng và nguyên tắc bảo tồn yếu tố gốc. Các cấu kiện cũ không nên bị thay thế chỉ vì dấu vết thời gian nếu chúng vẫn có thể gia cố. Sơn son thếp vàng hoặc trang trí mới cũng cần tránh làm mất dấu tích lịch sử.

Bên cạnh kiến trúc, cần quan tâm đến việc số hóa sắc phong, ghi chép lễ hội, phiên dịch hoành phi câu đối và sưu tầm ký ức của các nghệ nhân. Đây là những tư liệu có nguy cơ mất đi khi thế hệ cao tuổi qua đời.

Hoạt động du lịch có thể mang lại nguồn lực cho bảo tồn, nhưng phải được tổ chức có giới hạn. Không gian sân đình không nên bị lạm dụng cho hoạt động thương mại; âm thanh, ánh sáng và lượng người tham dự cần phù hợp với khả năng chịu tải của di tích.

Giáo dục di sản cho thế hệ trẻ cũng là một phần quan trọng. Trẻ em có thể được giới thiệu về các bước làm khuôn, nấu đồng, rót đồng và hoàn thiện sản phẩm thông qua mô hình, hình ảnh hoặc trải nghiệm an toàn. Qua đó, các em hiểu rằng một sản phẩm thủ công là kết quả của lao động, kiến thức và sự kiên trì.

Kết luận

Đình Ngũ Xã là một ngôi đình làng đặc biệt giữa lòng Hà Nội. Di tích không chỉ thờ Thiền sư Nguyễn Minh Không – Đức Thánh Tổ nghề đúc đồng – mà còn lưu giữ lịch sử của cộng đồng thợ từ năm xã quê gốc đến Thăng Long lập nghiệp.

Từ tên gọi Ngũ Xã, bố cục kiến trúc chữ Đinh, những đạo sắc phong triều Nguyễn, chuông đồng, đồ tế khí đến lễ hội ngày 17 tháng Giêng, mỗi yếu tố đều gắn với ký ức về một phường nghề từng rực lửa bên hồ Trúc Bạch.

Trong không gian đô thị và du lịch ngày càng sôi động, giá trị của đình nằm ở khả năng kết nối quá khứ với hiện tại. Bảo tồn Đình Ngũ Xã không chỉ là giữ một công trình cổ, mà còn là giữ câu chuyện về bàn tay người thợ, đạo lý tôn sư trọng nghề và đóng góp của các làng nghề đối với diện mạo văn hóa Thăng Long – Hà Nội.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.438 bài viết của Chi Tran
Bài viết cùng chuyên mục

Để lại bình luận