Đền Đống Nước quận Ba Đình thờ Ngọc Nương công chúa

Đền Đống Nước tương truyền có từ thời Trần, được đại trùng tu vào thời Nguyễn, bên trong thờ Ngọc Nương công chúa và Tam tòa Thánh Mẫu.

Ẩn mình trong khu dân cư lâu đời phía sau đường Hoàng Hoa Thám, Đền Đống Nước là một không gian tín ngưỡng gắn bó mật thiết với lịch sử làng Ngọc Hà và vùng Thập Tam Trại ở phía tây kinh thành Thăng Long xưa. Ngôi đền được biết đến trước hết là nơi thờ Đức Thánh bà Ngọc Nương công chúa, còn gọi là Bạch Ngọc Nương, một nữ thần liên quan đến nước trong thần tích và ký ức dân gian địa phương.

Tên gọi Đống Nước, câu chuyện về những mạch nước từng phun lên từ lòng đất, huyền tích Ngọc Nương theo rắn trắng về Thủy cung và việc bà được một vị vua triều Trần phong thần đã tạo nên lớp văn hóa dân gian đặc sắc quanh ngôi đền. Tuy nhiên, khi tìm hiểu các câu chuyện này, cần phân biệt rõ đâu là tư liệu hành chính, đâu là nội dung ngọc phả, truyền thuyết và cách diễn giải của cộng đồng qua nhiều thời kỳ.

Bên cạnh giá trị tín ngưỡng, Đền Đống Nước còn được chú ý bởi hệ thống kiến trúc, đồ thờ, ngọc phả, sắc phong và khoán ước được lưu giữ. Ngày 11/5/1993, đền được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích nghệ thuật tại Quyết định số 534-QĐ/BT. Đây là tên loại hình ghi trực tiếp trong danh mục kèm theo quyết định xếp hạng, vì vậy không nên tùy tiện đổi thành “di tích quốc gia đặc biệt” hoặc một cấp xếp hạng khác.

Đền Đống Nước ở đâu?

Đền Đống Nước nằm tại địa chỉ thường được ghi là số 63, ngõ 173 đường Hoàng Hoa Thám, hay ngõ 173, ngách 63 Hoàng Hoa Thám, phường Ngọc Hà, thành phố Hà Nội. Hai cách ghi trên về cơ bản cùng chỉ một vị trí trong hệ thống ngõ, ngách của khu dân cư Ngọc Hà.

Đền Đống Nước quận Ba Đình thờ Ngọc Nương công chúa

Trước ngày 1/7/2025, địa chỉ hành chính của đền được ghi đầy đủ là phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Vì vậy, tên gọi “Đền Đống Nước quận Ba Đình” vẫn phổ biến trong sách, bài giới thiệu di tích, bản đồ và cách nói quen thuộc của người dân.

Sau khi Hà Nội thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phường Ngọc Hà mới được thành lập theo Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025. Địa chỉ hiện hành của di tích nên ghi là: Đền Đống Nước, số 63 ngõ 173 Hoàng Hoa Thám, phường Ngọc Hà, thành phố Hà Nội.

Phường Ngọc Hà mới được hình thành từ toàn bộ hoặc một phần diện tích của nhiều phường thuộc quận Ba Đình cũ, trong đó có Ngọc Hà, Liễu Giai, Đội Cấn, Kim Mã, Cống Vị, Vĩnh Phúc và Ngọc Khánh. Do đó, cụm từ “quận Ba Đình” trong tiêu đề bài viết có ý nghĩa định vị theo địa giới cũ, còn địa chỉ hành chính hiện nay không còn cấp quận.

Đền nằm trong một vùng có mật độ di tích khá dày. Không xa Đền Đống Nước là đình Hữu Tiệp, đình Ngọc Hà, chùa Bát Mẫu, đình Đại Yên, đình – đền Liễu Giai và nhiều thiết chế tín ngưỡng của các làng, trại cổ. Mạng lưới đình, đền, chùa này phản ánh quá trình hình thành các xóm làng ở phía tây kinh thành Thăng Long, nơi từng nổi tiếng với nghề trồng hoa, trồng rau, làm thuốc và cung cấp sản vật cho khu vực nội thành.

Đền Đống Nước thờ ai?

Ngọc Nương công chúa là vị thần được thờ chính

Đền Đống Nước thờ chính Đức Thánh bà Ngọc Nương công chúa, trong một số tư liệu còn gọi là Bạch Ngọc Nương hoặc Chúa bà Ngọc Nương. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, bà là một nữ thần có nguồn gốc liên quan đến Thủy phủ, được cộng đồng tôn kính như vị thần bảo hộ nguồn nước, cuộc sống và sự bình an của cư dân.

Trang thông tin của phường Ngọc Hà dẫn nội dung ngọc phả cho biết Ngọc Nương là con gái của ông Lý Nghi và bà Hoàng Thị Tôn. Tương truyền, bà có sự ra đời khác thường, được Long Vương giao cai quản vùng đất Đống Nước. Khi tròn 18 tuổi, bà theo một con rắn trắng về Thủy cung. Sau khi bà hóa, dân làng cho rằng bà vẫn thường hiển ứng, giúp cộng đồng vượt qua thiên tai, dịch bệnh và những thời điểm bất an. Đây là nội dung thuộc ngọc phả và truyền thuyết tín ngưỡng, không nên hiểu như một bản tiểu sử lịch sử đã được xác minh theo phương pháp khoa học hiện đại.

Trong tâm thức người dân, Ngọc Nương là một nhân vật gắn với hiện tượng nước phun lên từ lòng đất và là biểu tượng cho sức mạnh bảo hộ của nữ thần nước. Việc thờ bà thể hiện cách cư dân nông nghiệp xưa nhân cách hóa những yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và đời sống.

Nước có thể nuôi sống con người, tưới mát ruộng vườn nhưng cũng có thể gây ngập lụt, dịch bệnh và bất trắc. Bởi vậy, hình tượng nữ thần cai quản nguồn nước thường mang hai phương diện: vừa uy nghiêm, khó lường, vừa che chở và ban sự yên ổn theo quan niệm của cộng đồng thực hành tín ngưỡng.

Đền còn phối thờ Tam tòa Thánh Mẫu

Ngoài Ngọc Nương công chúa, Đền Đống Nước còn có không gian thờ Tam tòa Thánh Mẫu cùng một số ban thờ thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu và Tứ phủ. Tư liệu giới thiệu di tích cho biết hậu cung có tượng Tam tòa Thánh Mẫu được đặt trong khám sơn son thếp vàng; tại các khu vực khác còn có lầu Cô, lầu Cậu và một số ban thờ các vị thánh trong tín ngưỡng dân gian.

Sự hiện diện của Tam tòa Thánh Mẫu cho thấy không gian thờ tự tại đền đã có quá trình bồi đắp, tiếp biến qua nhiều thế hệ. Một ngôi đền làng ban đầu có thể tập trung thờ vị thần bản địa, sau đó tiếp nhận thêm các lớp thực hành tín ngưỡng phổ biến trong vùng.

Ngọc Nương công chúa trong ngọc phả và truyền thuyết

Người con gái có sự ra đời khác thường

Theo nội dung được địa phương giới thiệu từ ngọc phả, cha mẹ Ngọc Nương là ông Lý Nghi và bà Hoàng Thị Tôn. Câu chuyện về sự ra đời và thời niên thiếu của bà được phủ lên một lớp màu sắc linh thiêng, vốn là đặc điểm thường gặp trong thần tích về các vị nữ thần, nhân thần hoặc thủy thần ở đồng bằng Bắc Bộ.

Những chi tiết như xuất thân khác thường, được Long Vương giao cai quản một vùng đất hay có mối liên hệ với rắn trắng không nhằm cung cấp một biên niên sử theo nghĩa hiện đại. Trong cấu trúc truyền thuyết, các yếu tố này có chức năng giải thích vì sao nhân vật được cộng đồng xem là có quyền năng vượt khỏi giới hạn của người bình thường.

Rắn là hình tượng xuất hiện khá phổ biến trong tín ngưỡng liên quan đến sông nước. Khả năng di chuyển linh hoạt trên mặt đất, trong hang và dưới nước khiến rắn được hình dung như sinh vật có thể kết nối nhiều thế giới. Màu trắng thường gợi sự khác thường, thanh khiết hoặc linh thiêng. Vì vậy, câu chuyện Ngọc Nương theo rắn trắng về Thủy cung có thể được nhìn nhận như một biểu tượng về việc bà trở về thế giới của thủy thần.

Ngày hóa của Ngọc Nương

Theo ngọc phả được dẫn lại trong các bài giới thiệu di tích, Ngọc Nương hóa vào ngày 17 tháng Tám âm lịch. Truyền thuyết kể rằng khi bà hóa, trời tối sầm, mưa lớn, nước sông dâng cao. Sau đó, tại vùng đất này xuất hiện hiện tượng nước từ lòng đất phun lên. Người qua lại nhận thấy sự khác thường, cho là linh thiêng nên lập miếu thờ.

Năm 2025, chính quyền phường Ngọc Hà tổ chức lễ kỷ niệm 823 năm ngày hóa Đức Thánh bà Ngọc Nương công chúa vào ngày 8/10 dương lịch. Hoạt động này cho thấy ngày hóa vẫn được cộng đồng địa phương tưởng niệm như một phần của đời sống tín ngưỡng và ký ức làng.

Con số năm kỷ niệm được sử dụng trong lễ hội là cách tính theo truyền thống và hồ sơ địa phương. Khi chưa khảo sát trực tiếp toàn văn ngọc phả, không nên từ con số này suy diễn quá chi tiết về ngày tháng năm sinh, năm mất theo dương lịch hoặc khẳng định mọi dữ kiện đều là sự kiện lịch sử đã được chứng minh.

Nguồn gốc tên gọi Đống Nước

Những cột nước phun lên từ lòng đất

Tên Đống Nước được giải thích bằng một hiện tượng tự nhiên từng được lưu truyền tại làng Ngọc Hà. Theo chuyện kể, khu vực ngôi đền có những mạch nước từ dưới đất phun lên thành cột hoặc tụ thành từng “đống nước”. Người dân thấy hiện tượng khác thường nên gọi địa điểm này là Đống Nước.

Trong đời sống của một làng nông nghiệp, nguồn nước luôn có ý nghĩa đặc biệt. Nơi có mạch nước tự nhiên thường được xem là chỗ đất tốt, có khả năng nuôi dưỡng cây trồng và cư dân. Khi hiện tượng nước phun gắn với câu chuyện ngày hóa của Ngọc Nương, địa danh Đống Nước dần trở thành một phần của thần tích ngôi đền.

Hiện chưa có tài liệu địa chất được công bố rộng rãi chứng minh chính xác quy mô, thời điểm và nguyên nhân của hiện tượng nước phun trong quá khứ. Vì thế, nên hiểu đây trước hết là ký ức địa phương về điều kiện thủy văn của vùng đất, được cộng đồng giải thích qua ngôn ngữ truyền thuyết.

Quan niệm đất nằm trên vòi rồng

Một cách lý giải khác cho rằng khu đất của đền nằm trên “vòi con rồng”, nên mỗi khi thời tiết thay đổi, nước lại phun lên. Đây là cách giải thích theo quan niệm phong thủy dân gian, trong đó hình tượng long mạch được sử dụng để hình dung dòng vận động của nước và khí dưới lòng đất.

Quan niệm này không phải kết luận khoa học về địa chất. Tuy nhiên, nó có giá trị trong việc tìm hiểu cách người xưa cảm nhận cảnh quan. Thay vì xem đất, nước và địa hình là những yếu tố vô tri, cộng đồng hình dung chúng như một cơ thể sống có đầu, mình, huyệt và mạch.

Tên Đống Nước vì thế đồng thời chứa đựng dấu vết của môi trường tự nhiên và thế giới quan dân gian. Nó giúp nhận ra mối quan hệ gần gũi giữa cư dân làng Ngọc Hà với nguồn nước, ruộng vườn và không gian sinh tồn quanh kinh thành.

Lịch sử hình thành Đền Đống Nước

Ngôi miếu được cho là có từ thời Trần

Theo truyền thuyết, tiền thân của Đền Đống Nước là một ngôi miếu nhỏ được dựng sau khi Ngọc Nương hóa. Đến thời Trần, sau sự kiện âm phù được kể trong thần tích, miếu được tu sửa và việc thờ phụng được triều đình thừa nhận qua hình thức phong thần.

Tuy nhiên, niên đại “có từ thời Trần” hiện chủ yếu dựa vào thần tích và lời truyền. Không nên hiểu rằng toàn bộ công trình kiến trúc đang thấy ngày nay đều được xây dựng từ thế kỷ XIII.

Trải qua nhiều thế kỷ, các công trình gỗ thường phải sửa chữa hoặc xây lại vì mưa nắng, mối mọt, chiến tranh, hỏa hoạn và nhu cầu sử dụng. Một ngôi đền có lịch sử thờ tự lâu đời vẫn có thể mang kiến trúc của giai đoạn muộn hơn.

Kiến trúc hiện còn chủ yếu mang dấu ấn thời Nguyễn

Tư liệu khảo sát cho biết đền được đại tu dưới thời Nguyễn và phần kiến trúc truyền thống còn lại chủ yếu mang phong cách của giai đoạn này. Năm 1954, người dân địa phương tiếp tục đóng góp tiền của để tu tạo di tích.

Điều này phản ánh vai trò của cộng đồng trong việc duy trì ngôi đền. Đền làng tồn tại nhờ sự công nhận của triều đình hay cơ quan nhà nước và nhờ công sức thường xuyên của người dân: sửa mái, thay cấu kiện hư hỏng, bảo quản đồ thờ, tổ chức lễ hội và truyền dạy nghi thức.

Mỗi lần tu sửa cũng có thể làm thay đổi một phần hình thức công trình. Vì thế, nghiên cứu kiến trúc đền cần quan tâm cả niên đại khởi dựng theo truyền thuyết, niên đại của cấu kiện hiện còn và lịch sử các đợt tu bổ.

Quá trình tu bổ trong thời hiện đại

Đền Đống Nước quận Ba Đình thờ Ngọc Nương công chúa
Đền Đống Nước quận Ba Đình thờ Ngọc Nương công chúa

Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có ý kiến về dự án tu bổ, tôn tạo Đền Đống Nước. Các hạng mục được đề cập gồm nghi môn, đền chính, Tam bảo, nhà thờ Chúa bà Ngọc Nương, lầu Cô, lầu Cậu, miếu Thổ thần, am hóa vàng và những công trình phục vụ hoạt động của di tích.

Cơ quan chuyên môn yêu cầu giữ nguyên vị trí miếu Thổ thần, bảo tồn và lắp dựng lại tối đa cấu kiện cổ của đền chính, đồng thời bảo quản an toàn các hiện vật trong quá trình thi công. Nội dung dự án cũng được yêu cầu công khai để tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

Đền Đống Nước được xếp hạng di tích gì?

Ngày 11/5/1993, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành Quyết định số 534-QĐ/BT, công nhận 15 di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên cả nước.

Đền Đống Nước quận Ba Đình thờ Ngọc Nương công chúa

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.048 bài viết của Chi Tran
Bài viết cùng chuyên mục

Để lại bình luận