Bản văn Cô Chín Thượng Ngàn

Bản văn Cô Chín Thượng Ngàn, giải nghĩa hình tượng, các dị bản lưu truyền và lưu ý khi tìm hiểu nghệ thuật hát chầu văn.

Trong kho tàng hát chầu văn của tín ngưỡng thờ Mẫu, văn các vị Thánh Cô thường mang âm điệu tươi sáng, mềm mại và giàu hình ảnh thiên nhiên. Những câu văn miêu tả hoa rừng, suối ngàn, khăn áo, quạt, cờ, thêu hoa và dệt gấm không chỉ làm nổi bật vẻ duyên dáng của hình tượng Thánh Cô mà còn tạo nhịp điệu cho các động tác múa trong nghi lễ.

Bản văn Cô Chín Thượng Ngàn được lưu truyền dưới nhiều hình thức khác nhau. Có bản thiên về cảnh núi rừng và tòa Sơn Trang; có bản lại nhắc nhiều đến Sòng Sơn, chín giếng, cây sung, cây si và hoạt động bán nước. Sự đan xen này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa các danh xưng Cô Chín Thượng Ngàn, Cô Chín Sòng Sơn và Cô Chín Giếng trong thực hành của từng đền phủ, bản hội và địa phương.

Bản văn Cô Chín Thượng Ngàn

Vì chưa có một văn bản duy nhất được toàn bộ cộng đồng thực hành xem là bản chuẩn, bài viết không khẳng định một dị bản nào là “bản cổ chính thức”. Phần văn dưới đây được biên soạn theo thi pháp hát văn truyền thống, sử dụng các mô-típ phổ biến của giá Cô Chín gắn với miền Thượng Ngàn. Đây là bản tham khảo văn hóa, không thay thế bài bản riêng của cung văn hoặc nghi thức tại từng đền phủ.

Bản văn Cô Chín Thượng Ngàn tham khảo

Dâng văn thỉnh Cô

Hương trầm kính tiến điện trung
Dâng văn thỉnh Cô về cùng chứng tâm
Mây ngàn tỏa bóng xa xăm
Thông reo đỉnh núi, trăng rằm soi khe

Đường lên quanh dốc sơn khê
Hoa rừng hé nụ, chim về gọi nhau
Suối trong uốn khúc chân cầu
Mây vương đỉnh biếc một màu thanh tân

Có Cô giáng cảnh xa gần
Thứ chín hàng Cô, thanh tân dịu dàng
Theo hầu cửa Mẫu nghiêm trang
Khi về điện ngọc, khi sang rừng đào

Khăn hoa điểm nét má đào
Áo hồng phơn phớt tựa màu bình minh
Tùy nơi khăn áo tạo hình
Có miền phối sắc rừng xanh núi ngàn

Cô về dạo cảnh Sơn Trang
Thăm người giữ bản, thăm ngàn suối trong
Hoa thơm kết một giỏ hồng
Dâng lên cửa Mẫu Công đồng chứng minh

Phách ngân theo nhịp cung đàn
Lời văn nối cảnh đại ngàn bao la
Cô đi hái những nhành hoa
Lan rừng, quế núi đem ra dâng tòa

Tương truyền Cô vốn tiên nga
Theo hầu Thánh Mẫu vào ra điện tiền
Việc xưa lưu giữa cửa đền
Mỗi vùng kể một mối duyên khác màu

Nơi truyền Cô ngự rừng sâu
Nơi ca Cô ở bên đầu suối trong
Nơi tôn Cô tại đền Sòng
Nơi thờ chín giếng nước trong bốn mùa

Chuyện truyền không phải sử xưa
Mà là ký ức sớm trưa cộng đồng
Qua bao thế hệ vun trồng
Thành câu hát thỉnh, thành lòng kính tin

Cô dạo cảnh Thượng Ngàn

Chim kêu ríu rít trên cành
Hươu nai thấp thoáng rừng xanh cuối chiều
Gió đưa tiếng sáo lưng đèo
Mây bay từng lớp, suối reo dưới ngàn

Cô đi khắp chốn Sơn Trang
Mười phương cửa động, muôn vàn cỏ cây
Tay nâng một nhánh đào mai
Tay vin cành quế, hái vài đóa lan

Sớm ra bóng nắng đầu ngàn
Chiều về sương phủ bên làn nước trong
Xuân sang hoa nở ven đồng
Hạ nghe tiếng thác giữa vùng núi cao

Thu về gió thoảng hương đào
Đông sang bếp đỏ ấm vào bản xa
Người lên nương rẫy sớm qua
Người về xuống chợ chiều tà gặp nhau

Cô thương người ở rừng sâu
Gìn nguồn nước sạch, bắc cầu qua khe
Thương người lặn lội sơn khê
Vai mang gùi nặng, đường về còn xa

Lời văn kể cảnh sơn hà
Không nhằm tô vẽ chuyện xa lạ đời
Mà nhắc con cháu mọi nơi
Yêu rừng, giữ suối, thương người cùng quê

Núi cao có lối đi về
Suối sâu có đá cận kề đôi bên
Người còn giữ nghĩa mới bền
Cây còn xanh lá, bản thêm yên lành

Cô theo hầu cửa Mẫu

Cô về trước cửa Mẫu Vương
Sớm khuya phụng sự, khói hương giữ gìn
Khi theo Mẫu ngự thiên đình
Khi về Nhạc phủ hữu tình nước non

Mẫu thương cây cỏ núi non
Thương người lao động sớm hôm chuyên cần
Cô theo hầu cận xa gần
Chuyển lời khuyến thiện xuống trần nhân gian

Rằng người lễ bái cửa đền
Trước sau nên giữ lòng hiền, nghĩa nhân
Không vì lễ lớn xa gần
Mà quên bổn phận với thân, với nhà

Kính trên, nhường dưới thuận hòa
Thương người cơ nhỡ, mẹ cha phụng thờ
Niềm tin gìn giữ ước mơ
Nhưng không thay được công phu học hành

Muốn cho công việc tốt lành
Cần siêng lao động, thực hành điều ngay
Không nghe lời đoán đổi thay
Đem điều sợ hãi buộc dây lòng người

Lộc Cô trong cách hiểu đời
Là tâm thanh thản, là người nghĩa nhân
Là khi hoạn nạn có phần
Anh em giúp đỡ, xa gần sẻ chia

Cô múa quạt

Quạt hoa ba sáu nan đều
Cô cầm nhẹ bước, dáng kiều thanh tân
Quạt lên gió mát xa gần
Quạt về trước cửa Công đồng Mẫu Vương

Quạt hoa mở cánh dịu dàng
Một đường đưa gió, hai hàng mây tan
Quạt qua bóng trúc, hoa lan
Quạt về soi ánh trăng ngàn đầu non

Quạt cho nguôi những héo hon
Quạt lòng tỉnh thức, quạt cơn giận hờn
Quạt người ghi nhớ nguồn ơn
Mẹ cha dưỡng dục, nước non sinh thành

Quạt cho lá biếc rừng xanh
Cho nguồn nước chảy, cho cành trổ hoa
Quạt không đổi được số nhà
Mà như nhắc nhở người ta tu mình

Đôi tay múa lượn hữu tình
Lúc như cánh bướm, lúc hình chim bay
Tiếng đàn khoan nhặt đêm ngày
Tiếng phách theo bước bàn tay nhịp nhàng

Khi vui múa quạt tiến Mẫu
Khi sang múa cờ trước cửa điện trung
Tấm lòng hướng đến Công đồng
Không cầu hơn thiệt, chẳng mong hại người

Cô múa cờ

Cờ hoa mở giữa điện tiền
Theo câu văn thỉnh, theo miền trống rung
Cô đi một vòng điện trung
Cờ nghiêng như ánh cầu vồng sau mưa

Cờ dâng chẳng luận hơn thua
Mà nêu nghĩa khí người xưa giữ làng
Nhớ công tiền bối mở mang
Gìn từng bờ cõi, xóm làng bình yên

Cờ bay theo nhịp cung đàn
Lúc khoan như gió, lúc dồn như mưa
Người xem giữ phép kính thưa
Không chen lấn bước, không đùa điện thiêng

Khi Cô dạo cảnh cửa đền
Khi về động phủ, khi miền rừng sâu
Mây xanh in xuống nhịp cầu
Suối trong soi bóng một màu thanh tân

Cô thăm khắp chốn xa gần
Thăm người cơ cực, hỏi phần ấm no
Lời văn gửi một ước mơ
Người thương người, chẳng thờ ơ nỗi đời

Ai giàu biết giúp người nghèo
Ai trong thuận cảnh hiểu điều sẻ san
Công danh có lúc hợp tan
Tình người còn lại mới càng bền lâu

Cô thêu hoa, dệt gấm

Khung vàng hiện giữa lời ca
Thoi ngà cũng bởi người ta ví hình
Tay tiên thêu cảnh bình minh
Thêu hoa bên suối, thêu hình núi non

Thêu chim về đậu đầu cành
Thêu đàn cá lội nước xanh giữa nguồn
Thêu người vượt dốc lên nương
Thêu em xuống chợ, khăn vương sắc chàm

Thêu câu hiếu nghĩa gia đường
Thêu lòng trung hậu, thêu gương thuận hòa
Mũi kim nâng cánh đào hoa
Đường tơ nối những mái nhà gần xa

Cô thêu mấy áng mây hồng
Thêu trăng soi nước, thêu dòng suối reo
Thêu con đường nhỏ lưng đèo
Thêu đàn chim gọi những chiều sang xuân

Dệt nên nghĩa xóm tình thân
Dệt lời của mẹ ân cần thuở xưa
Dệt câu nhắn nhủ sớm trưa
Giữ nghề, giữ đất, giữ mùa cây xanh

Gấm không chỉ để long lanh
Gấm là ký ức tạo thành quê hương
Qua câu hát, nhịp cung thương
Qua bao thế hệ còn vương đến giờ

Cô hái hoa dâng Mẫu

Cô đi hái những nhành lan
Hái hoa bên suối, hái ngàn cỏ thơm
Hái bông lúa mới trên nương
Gom thành một lẵng kính dâng Mẫu hiền

Hoa không quý bởi nhiều tiền
Mà vì sạch sẽ, vì duyên lòng thành
Không nên bẻ cành cây xanh
Không đem hoa hiếm trong rừng làm nghi

Hoa dâng giữ trọn lễ nghi
Hoa tươi vừa đủ, không vì khoe sang
Hoa lan, hoa huệ, hoa hồng
Tùy theo mùa vụ, tùy lòng người dâng

Hương thơm lan tỏa điện trung
Nhắc người đi lễ giữ cùng thiện tâm
Tôn nghiêm chẳng ở tiếng cười
Chẳng ở vàng mã ngút trời khói bay

Lời khuyến thiện

Cô về nhắn nhủ gần xa
Tu nhân chưa phải tìm qua núi đồi
Trước tiên sửa lấy tâm người
Kính cha, trọng mẹ, giữ lời thủy chung

Không vì lời phán mông lung
Mà sinh lo sợ, lạnh lùng cửa nhà
Không nghe kẻ nói gần xa
Phải làm lễ lớn mới qua nạn đời

Khi đau nên hỏi đúng người
Tìm nơi thăm khám, nghe lời chuyên môn
Khi buồn, khi thấy bất an
Nên tìm người giúp, sẻ san thật lòng

Niềm tin gìn giữ ước mong
Nhưng không thay thế thuốc dùng chữa thân
Không đem danh Thánh dọa người
Không dùng “căn số” ép người mở cung

Người theo tín ngưỡng Công đồng
Nên tôn phép nước, giữ lòng bao dung
Khác nhau nghi thức mỗi vùng
Vẫn cùng trân trọng cội nguồn Việt Nam

Lễ Cô trước trọng lòng thành
Sau là nếp sống thiện lành thường xuyên
Không cầu thắng kẻ cạnh bên
Không xin lợi lộc dựng trên khổ người

Kính thỉnh Cô chứng tâm

Hương dâng quyện giữa điện tiền
Văn dâng xin kết thiện duyên với đời
Thỉnh Cô về ngự một thời
Chứng tâm kính Mẫu, chứng lời thiện nhân

Cầu không phải đổi số phần
Chỉ mong trí sáng, bước chân vững vàng
Cầu cho xóm bản bình an
Người đi thuận nẻo, người làm thuận công

Cầu cho nguồn nước xanh trong
Rừng cây bền gốc, ruộng đồng tốt tươi
Cầu cho con trẻ nên người
Biết yêu lịch sử, biết cười sẻ san

Cầu cho cha mẹ thọ an
Gia đình hòa thuận, họ hàng kết thân
Cầu người gặp lúc khó khăn
Có nơi nương tựa, có phần cảm thông

Văn ca kính tiến Công đồng
Kính dâng Thánh Mẫu, kính cùng Tiên Cô
Lời còn vụng dại đơn sơ
Xin gìn nét đẹp phụng thờ ngàn năm

Phách chầu xin tạm dừng âm
Hương thơm còn tỏa, thiện tâm còn truyền
Cô hồi tiên cảnh bình yên
Người trần ghi nhớ làm điều nghĩa nhân.

Bản văn trên có phải là bản cổ duy nhất không?

Bản văn trong bài là bản biên soạn tham khảo, không phải một văn bản cổ được xác định niên đại hoặc một bản chuẩn bắt buộc dùng tại mọi đền phủ. Việc ghi rõ tính chất văn bản đặc biệt quan trọng bởi hát chầu văn vốn được trao truyền qua nhiều thế hệ bằng cả trí nhớ, sổ chép tay và thực hành trực tiếp.

Trong quá trình diễn xướng, cung văn có thể lựa chọn, thêm bớt hoặc sắp xếp lại các đoạn để phù hợp với thời lượng của giá hầu. Cùng một vị Thánh Cô nhưng các bản hội ở Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội, Lạng Sơn, vùng trung du Bắc Bộ hoặc những địa phương khác có thể sử dụng lời văn không hoàn toàn giống nhau.

Một bản văn thường không được hát liên tục từ đầu đến cuối như đọc một bài thơ. Cung văn quan sát diễn biến của giá hầu để chuyển làn điệu, thay đổi tiết tấu và lựa chọn đoạn phù hợp với từng động tác. Khi thanh đồng múa quạt, lời văn chuyển sang hình ảnh quạt hoa; khi múa cờ, nhịp đàn có thể trở nên mạnh và dồn hơn; khi thực hiện động tác thêu hoa, dệt gấm, âm nhạc lại trở về sắc thái mềm mại.

Bởi vậy, sự khác biệt giữa các bản không nhất thiết đồng nghĩa một bản đúng còn bản kia sai. Điều cần xem xét là bản văn ấy thuộc mạch truyền nào, được dùng tại đâu, ca ngợi vị thánh nào và có bị ghép nhầm với lời của một giá khác hay không.

Hình tượng Cô trong bản văn

Vẻ đẹp trẻ trung của hàng Thánh Cô

Văn các vị Thánh Cô thường miêu tả hình tượng nữ thần trẻ với gương mặt tươi sáng, dáng đi nhẹ nhàng, khăn áo đẹp và tài múa hát. Những đặc điểm này tạo nên sắc thái vui tươi, khác với vẻ uy nghiêm trong một số giá Quan, Chầu hoặc Đức Thánh Trần.

Vẻ đẹp trong lời văn không chỉ là nhan sắc. Cô còn được ca ngợi bởi sự thông minh, khéo léo, lòng thương người và khả năng đi lại giữa nhiều không gian. Hình tượng ấy phản ánh cách cộng đồng tôn vinh năng lực của người phụ nữ trong đời sống văn hóa.

Khi diễn giải ngày nay, không nên thu hẹp giá trị của Thánh Cô vào trang phục đẹp hoặc khả năng ban phát tài lộc. Những phẩm chất như sự tận tụy, tinh thần giúp đỡ, lòng trung hậu và sự gắn bó với thiên nhiên cần được chú ý nhiều hơn.

Màu áo và khăn trang

Trong giá Cô Chín được thực hành phổ biến, màu hồng đào hoặc hồng phấn thường xuất hiện. Màu hồng gợi tuổi trẻ, vẻ thanh tân và không khí vui tươi của hàng Thánh Cô.

Ở những nơi nhấn mạnh phương diện Thượng Ngàn, trang phục có thể phối thêm màu xanh, họa tiết hoa lá, khăn hoặc đồ trang sức gợi không gian miền núi. Cách sử dụng màu sắc không hoàn toàn giống nhau giữa các bản hội.

Không nên khẳng định chỉ một loại trang phục là đúng tuyệt đối. Thanh đồng và người phục vụ nghi lễ thường tuân theo truyền thống của bản hội, quy định tại nơi thực hành và sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm.

Trang phục cần bảo đảm sự trang nghiêm, tránh biến tấu quá mức hoặc sao chép tùy tiện trang phục truyền thống của một dân tộc mà không hiểu nguồn gốc và ý nghĩa.

Quạt hoa

Quạt là đạo cụ quen thuộc trong nhiều giá Thánh Cô. Động tác mở, khép, xoay và đưa quạt tạo cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại. Lời văn thường ví đôi tay múa quạt với cánh bướm, cánh chim hoặc dáng tiên nữ.

Trong ngôn ngữ biểu tượng, quạt có thể được diễn giải là đem đến gió mát, xua mây và tạo sự thanh thoát cho không gian nghi lễ. Tuy nhiên, đây là hình ảnh nghệ thuật, không phải một phép thuật có khả năng thay đổi số phận.

Cờ

Múa cờ tạo sắc thái mạnh hơn múa quạt. Cờ có thể tượng trưng cho việc phụng sự, tuần du hoặc dâng tiến. Khi chuyển sang đoạn múa cờ, nhịp trống và phách thường trở nên rõ hơn để hỗ trợ động tác.

Không nên mặc định mọi giá Cô Chín đều phải có múa cờ. Trình tự và đạo cụ phụ thuộc vào nghi thức của từng bản hội cũng như diễn biến của buổi hầu.

Thêu hoa, dệt gấm

Hình ảnh khung cửi, thoi ngà, chỉ màu và đôi tay thêu hoa xuất hiện trong nhiều bản văn hàng Thánh Cô. Đây là cách ca ngợi sự khéo léo và tài hoa của người phụ nữ.

Hoa văn được nhắc đến có thể bao gồm núi, nước, chim, cá, trăng, mây và cảnh lao động. Qua đó, bản văn biến tấm gấm thành một bức tranh thu nhỏ về thiên nhiên và cuộc sống.

Mô-típ thêu hoa không phải đặc điểm dành riêng cho Cô Chín. Nó cũng có thể xuất hiện trong văn Cô Đôi, Cô Sáu, Cô Tám hoặc các vị Cô Bé. Người nghiên cứu vì vậy cần xem toàn bộ nội dung thay vì dựa vào một đoạn đơn lẻ.

Bản văn khác với văn khấn như thế nào?

Bản văn chầu và văn khấn đều có thể xuất hiện tại không gian tín ngưỡng nhưng có chức năng khác nhau.

Văn khấn chủ yếu được đọc hoặc trình bày trước ban thờ. Nội dung thường gồm lời kính lễ, thông tin của người hành lễ, lý do dâng hương và nguyện vọng. Người đi lễ có thể đọc thành tiếng nhỏ hoặc khấn trong tâm.

Bản văn chầu là lời ca kết hợp với âm nhạc. Cung văn sử dụng giọng hát, đàn nguyệt, phách, trống và các nhạc cụ khác để dẫn dắt giá hầu. Lời văn vừa tán tụng, vừa kể cảnh, kể tích và hỗ trợ động tác của người thực hành nghi lễ.

Do đó, bản văn không nên được gọi là “bài khấn Cô Chín”. Đọc một bài văn tại nhà cũng không đồng nghĩa thực hiện một giá hầu hoặc một nghi lễ thỉnh Thánh.

Mọi người có thể đọc bản văn để tìm hiểu văn hóa, ngôn ngữ và nghệ thuật. Việc yêu thích một bài hát văn, thường mơ thấy một vị thánh hoặc cảm thấy gần gũi với một hình tượng không phải căn cứ chắc chắn để kết luận mình có “căn Cô Chín”.

Có thể hát hoặc đọc bản văn tại nhà không?

Mọi người có thể đọc bản văn tại nhà với mục đích tìm hiểu văn hóa, học lời hoặc nghiên cứu thi pháp dân gian. Đây không phải hành động bị cấm và cũng không tự động tạo thành một nghi lễ tâm linh.

Tuy nhiên, hát chầu văn đúng nghĩa cần có kiến thức về làn điệu, nhạc cụ và bối cảnh diễn xướng. Chỉ đọc phần lời sẽ không thể hiện đầy đủ giá trị của loại hình nghệ thuật này.

Người có bàn thờ liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu có thể dâng hương theo nếp gia đình, giữ không gian thờ tự sạch sẽ và trình bày nguyện vọng một cách giản dị. Không nhất thiết phải đọc một bản văn dài nếu không hiểu nội dung.

Không nên sử dụng bản văn như thần chú để gọi Thánh, ép buộc sự linh ứng, xem bói hoặc yêu cầu một kết quả cụ thể. Việc tự tổ chức nghi lễ lớn khi chưa hiểu quy tắc cũng có thể dẫn đến lãng phí, hỏa hoạn hoặc những ứng xử không phù hợp với cộng đồng thực hành.

Giá trị văn hóa của bản văn Cô Chín Thượng Ngàn

Lưu giữ thi pháp dân gian

Bản văn sử dụng những thể thơ quen thuộc như lục bát, song thất lục bát và các đoạn biến thể phù hợp với nhạc. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều câu đối xứng và các cụm từ có khả năng lặp lại trong diễn xướng.

Qua lời văn, người đọc có thể nhận biết cách cộng đồng xưa hình dung về thế giới thiêng, núi rừng, nguồn nước và vẻ đẹp của người phụ nữ.

Gắn lời thơ với âm nhạc và múa

Giá trị của bản văn không nằm riêng ở câu chữ. Khi kết hợp với đàn nguyệt, phách, trống, giọng hát, trang phục và động tác, lời văn trở thành một phần của chỉnh thể nghệ thuật.

Mỗi đoạn có chức năng riêng: đoạn thỉnh tạo không khí trang trọng; đoạn kể cảnh mở ra không gian thần thoại; đoạn múa quạt, múa cờ hỗ trợ động tác; đoạn kết đưa giá hầu trở về trạng thái lắng lại.

Tôn vinh hình tượng nữ giới

Hình tượng Cô Chín vừa trẻ trung, tài hoa, vừa có khả năng đi lại và hành động trong nhiều không gian. Đây là một trong những biểu hiện cho vị trí nổi bật của nữ thần và người phụ nữ trong tín ngưỡng thờ Mẫu.

Khi tiếp cận từ góc nhìn hiện đại, có thể nhận ra trong hình tượng ấy sự tôn trọng đối với trí tuệ, sự khéo léo, lòng nhân hậu và năng lực bảo vệ cộng đồng của phụ nữ.

Gợi ý thức bảo vệ thiên nhiên

Các hình ảnh rừng xanh, suối trong, hoa lan, chim thú và bản làng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của văn Cô Chín Thượng Ngàn. Chúng cũng nhắc con người về sự phụ thuộc của đời sống vào rừng và nguồn nước.

Tôn kính một vị Thánh Cô của miền Thượng Ngàn không nên chỉ dừng ở dâng hương. Ý nghĩa ấy có thể được thể hiện bằng những hành động cụ thể như không xả rác, không bẻ cây, không săn bắt động vật và không khai thác cảnh quan di tích vì lợi ích ngắn hạn.

Kết nối cộng đồng

Một buổi hát văn có sự tham gia của nhiều người: thủ nhang, thanh đồng, cung văn, hầu dâng, người phục vụ và người dự lễ. Sự phối hợp giữa họ tạo nên không gian gặp gỡ, truyền dạy kỹ năng và duy trì ký ức cộng đồng.

Giá trị này chỉ được gìn giữ bền vững khi việc thực hành dựa trên sự tự nguyện, tôn trọng lẫn nhau và không lợi dụng niềm tin để trục lợi.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.048 bài viết của Chi Tran
Bài viết cùng chuyên mục

Để lại bình luận