Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils

Bộ bưu ảnh Dieulefils tái hiện làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX, từ ngâm vỏ cây, seo giấy đến ép, phơi và đời sống thợ nghề.

Trong kho tàng hình ảnh về Hà Nội xưa, những bưu ảnh mang dòng chữ tiếng Pháp “Tonkin – Hanoï – Village du papier” có một giá trị đặc biệt. Thay vì hướng ống kính vào công sở, nhà ga, đại lộ hay những công trình tiêu biểu của thành phố thuộc địa, loạt ảnh đưa người xem đến một vùng làng nghề ven Hồ Tây, nơi giấy được làm bằng những phương pháp thủ công đã truyền qua nhiều thế hệ.

Trên các bưu ảnh còn nhìn thấy những mái nhà tranh, lò nấu nguyên liệu, bể ngâm, bể seo, bó vỏ cây, dụng cụ ép giấy và đông đảo người dân tham gia sản xuất. Phụ nữ, đàn ông, người già và trẻ nhỏ cùng xuất hiện trong một không gian mà nơi ở, sân nhà, đường làng và xưởng nghề gần như hòa làm một.

Những hình ảnh này thường được chia sẻ dưới tên “bộ ảnh làng giấy Hà Nội năm 1907” hoặc đôi khi được gắn với Georges-Auguste Marbotte. Tuy nhiên, chữ in và ký hiệu trên chính các tấm bưu ảnh cho thấy chúng thuộc loạt ấn phẩm của Pierre Dieulefils, một nhiếp ảnh gia và nhà xuất bản bưu ảnh hoạt động tại Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils
Làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX qua bộ bưu ảnh Dieulefils

Việc xác định đúng xuất xứ không chỉ là vấn đề tên tác giả. Nó giúp người đọc hiểu đây không đơn thuần là một tập ảnh được chụp trong một chuyến đi, mà là một loạt bưu ảnh được lựa chọn, đánh số, in chú thích và phát hành cho thị trường đương thời. Qua đó, bộ tư liệu vừa phản ánh nghề làm giấy, vừa cho thấy cách hình ảnh về con người và làng quê Việt Nam được giới thiệu tới công chúng trong thời kỳ thuộc địa.

Vì sao nên gọi đây là bộ bưu ảnh Dieulefils?

Những dòng chữ in trên ảnh

Các tấm ảnh trong bộ sưu tập có đặc điểm chung là chú thích bằng tiếng Pháp, thường gồm tên khu vực, địa danh, chủ đề và số thứ tự.

Bưu ảnh số 64A mang dòng chữ:

TONKIN – Hanoï – Village du papier – Femme tirant le papier de la Cuve

Có thể dịch là:

Bắc Kỳ – Hà Nội – Làng giấy – Người phụ nữ lấy giấy khỏi bể.

Bưu ảnh số 65 mang dòng chữ:

TONKIN – Hanoï – Fabrication du papier – Le Pressage

Nghĩa là:

Bắc Kỳ – Hà Nội – Làm giấy – Công đoạn ép.

Bưu ảnh số 68 ghi:

TONKIN – Hanoï – Village du papier – Fours et Bassins de Macération

Có thể dịch là:

Bắc Kỳ – Hà Nội – Làng giấy – Các lò nấu và bể ngâm ủ nguyên liệu.

Tên Pierre Dieulefils hoặc dòng “Collection Dieulefils – Hanoï” có thể xuất hiện ở mép dưới, mặt sau hoặc được thể hiện bằng biểu trưng chiếc lư hương. Trong danh mục của cơ sở này, chiếc lư hương là nhãn hiệu dùng để nhận biết các ấn phẩm do Dieulefils phát hành.

Các con số 64A, 65 và 68 là mã hoặc số thứ tự trong loạt phát hành, không phải năm chụp. Chúng cũng không nhất thiết phản ánh đúng thứ tự các bước làm giấy. Vì vậy, không nên nhìn số 64, 65, 68 rồi cho rằng các ảnh được chụp liên tiếp hoặc công đoạn trong ảnh diễn ra theo đúng trình tự ấy.

Pierre Dieulefils là ai?

Pierre Marie Alexis Dieulefils sinh năm 1862 tại Malestroit, vùng Bretagne của Pháp. Ông đến Bắc Kỳ trong quân đội Pháp, bắt đầu quan tâm đến nhiếp ảnh trong thời gian tham gia các hoạt động quân sự và sau đó định cư tại Hà Nội.

Dieulefils phát triển một cơ sở nhiếp ảnh và xuất bản bưu ảnh khá lớn. Địa chỉ cơ sở của ông từng được ghi tại phố Jules Ferry ở Hà Nội, con phố về sau mang tên Hàng Trống. Các ấn phẩm của Dieulefils bao quát nhiều địa phương và chủ đề: phố xá, công trình kiến trúc, cung đình Huế, làng nghề, chợ, đời sống nông thôn, cộng đồng dân tộc, hoạt động lao động và cảnh quan tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Campuchia, Vân Nam.

Bưu ảnh là một phương tiện truyền thông phổ biến vào đầu thế kỷ XX. Người mua có thể viết lời nhắn, dán tem và gửi cho người thân. Bên cạnh chức năng liên lạc, bưu ảnh còn là đồ lưu niệm, vật sưu tập và phương tiện hình thành cách nhìn về một vùng đất.

Vì vậy, khi gọi đây là “bộ bưu ảnh Dieulefils”, cách hiểu thận trọng nhất là các tấm thuộc hệ thống ấn phẩm do cơ sở của ông phát hành. Dù nhiều danh mục ghi Dieulefils là nhiếp ảnh gia, không nên mặc nhiên khẳng định ông trực tiếp bấm máy mọi bức nếu chưa có hồ sơ về âm bản hoặc ghi chép đi kèm.

Vì sao không nên ghi chắc chắn “chụp năm 1907”?

Một số bưu ảnh cũ còn tem và dấu nhật ấn. Nếu dấu bưu điện ghi năm 1907, điều chắc chắn nhất có thể kết luận là tấm bưu ảnh đã được gửi hoặc lưu hành vào thời điểm đó.

Ảnh gốc dùng để in bưu ảnh có thể được chụp trước ngày gửi vài tháng hoặc nhiều năm. Một khuôn hình cũng có thể được tái bản nhiều lần, với màu mực, cách đặt chữ và mặt sau khác nhau. Có bản đen trắng, bản in chữ đỏ, bản tô màu và bản được một nhà phát hành khác sử dụng lại.

Do đó, mốc “1907” có thể phù hợp khi chú thích riêng một tấm có dấu bưu chính rõ ràng:

Bưu ảnh được gửi năm 1907.

Nhưng không nên chuyển thành:

Toàn bộ ảnh được chụp năm 1907.

Với tình trạng tư liệu hiện có, cụm từ “đầu thế kỷ XX” phản ánh đúng niên đại hơn mà không tạo ra một khẳng định vượt quá bằng chứng trên bưu ảnh.

“Làng giấy” trong ảnh là địa phương nào?

Vùng làng nghề Kẻ Bưởi

Cụm từ “Village du papier” trên bưu ảnh có nghĩa trực tiếp là “làng giấy”. Tuy nhiên, đây không nhất thiết là tên chính thức của một làng duy nhất.

Phía nam và tây nam Hồ Tây từng có một vùng làng nghề rộng lớn, thường được gọi chung là Kẻ Bưởi. Nằm dọc sông Tô Lịch và khu vực đường Thụy Khuê ngày nay là các làng Yên Thái, An Thọ, Đông Xã, Hồ Khẩu, Thụy Khuê cùng một số cộng đồng lân cận. Nhiều làng trong vùng có liên quan đến nghề làm giấy, nhưng sản phẩm và mức độ chuyên môn có thể khác nhau.

Yên Thái là địa danh nổi tiếng nhất khi nhắc đến giấy dó Hà Nội. Tên làng gắn với hình ảnh tiếng chày giã nguyên liệu vang bên Hồ Tây, được lưu truyền qua hai câu ca quen thuộc:

Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

“Nhịp chày Yên Thái” không chỉ là một hình ảnh thi ca. Đó là âm thanh phát sinh từ quá trình giã xơ cây để tạo thành bột giấy. Khi nhiều gia đình cùng làm nghề, tiếng chày liên tiếp vang lên, trở thành một phần của cảnh quan âm thanh vùng phía tây kinh thành.

Không nên đồng nhất mọi bức ảnh với Yên Thái

Do Yên Thái nổi tiếng nhất, nhiều bài viết gọi toàn bộ khu vực trong ảnh là làng giấy Yên Thái. Cách gọi này có thể đúng về không gian văn hóa rộng, nhưng chưa chắc chính xác đối với từng khuôn hình.

Các bưu ảnh chỉ ghi chung “Village du papier”, không ghi rõ Yên Thái, Hồ Khẩu hay Đông Xã. Những xưởng sản xuất trong ảnh cũng không có biển hiệu hoặc công trình đủ đặc trưng để xác định chính xác vị trí.

Vì vậy, chú thích phù hợp nên là:

Hoạt động làm giấy tại vùng làng giấy Kẻ Bưởi, Hà Nội.

Hoặc:

Một xưởng giấy tại khu vực làng giấy Hà Nội, có khả năng thuộc vùng Kẻ Bưởi – Yên Thái.

Chỉ nên khẳng định “chụp tại làng Yên Thái” khi có chú thích gốc, bản đồ, hồ sơ lưu trữ hoặc nghiên cứu nhận diện địa điểm đủ tin cậy.

Địa danh hiện nay

Khu vực các làng Yên Thái, An Thọ, Đông Xã và Hồ Khẩu nằm dọc phố Thụy Khuê. Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, phần lớn không gian Kẻ Bưởi cũ thuộc phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Cổng làng Yên Thái hiện còn tại số 562 phố Thụy Khuê. Trên cổng có bốn chữ “Mỹ tục khả phong”, gắn với ký ức về một cộng đồng làng nghề lâu đời. Tuy nhiên, hoạt động làm giấy thủ công từng tạo nên tiếng chày nổi tiếng của vùng đã không còn được duy trì như trước.

Đọc bưu ảnh số 68: lò nấu và bể ngâm nguyên liệu

Chú thích “Fours et Bassins de Macération”

Trong bưu ảnh số 68, chú thích tiếng Pháp xác định đối tượng chính là các lò và bể dùng cho công đoạn ngâm ủ nguyên liệu.

Từ “fours” có thể chỉ những lò tạo nhiệt phục vụ việc nấu hoặc xử lý vỏ cây. “Bassins de macération” là các bể ngâm, nơi nguyên liệu được giữ trong nước hoặc dung dịch xử lý để trở nên mềm hơn, giúp tách bỏ tạp chất và chuẩn bị cho những bước tiếp theo.

Trong ảnh, các hố và bể xây thấp xuất hiện ở phần tiền cảnh. Phía sau là mái nhà tranh, cây cối, những bó nguyên liệu và một số người đang làm việc. Không gian sản xuất được tổ chức ngoài trời, xen giữa nhà ở và đường đi.

Bức ảnh không chỉ ghi lại dụng cụ. Nó cho thấy nghề giấy đòi hỏi một diện tích đáng kể dành cho bể ngâm, lò nấu, nơi tập kết nguyên liệu và khu vực thoát nước. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nghề khó tiếp tục tồn tại khi đất làng dần bị đô thị hóa và không gian sản xuất bị thu hẹp.

Từ vỏ cây đến xơ giấy

Tùy từng loại giấy, người thợ có thể sử dụng vỏ cây dó cùng một số loại vỏ thực vật khác. Nguyên liệu phải được bóc, phơi, ngâm và nấu để làm mềm phần xơ.

Quá trình xử lý không nhằm nghiền nát toàn bộ vật liệu như cách sản xuất bột giấy công nghiệp hiện đại. Người thợ cần giữ được đặc tính của sợi, đồng thời loại bỏ phần vỏ cứng, màu sẫm và các chất không phù hợp.

Khi nguyên liệu chưa được nấu và ngâm đủ, việc giã sẽ nặng nhọc, xơ khó tách. Nếu xử lý quá mức, sợi có thể bị suy giảm độ bền. Kinh nghiệm nghề thể hiện ở khả năng nhận biết trạng thái nguyên liệu bằng màu sắc, độ mềm, mùi và cảm giác khi cầm.

Một môi trường lao động ẩm ướt và nặng nhọc

Ảnh cũ dễ tạo cảm giác yên bình vì có mái tranh, hàng cây và con đường đất. Nhưng công đoạn ngâm, nấu nguyên liệu là phần lao động nặng nhọc.

Người thợ phải vận chuyển vỏ cây, củi đốt và nước; làm việc bên lò nóng; tiếp xúc với khói, hơi nước và những bể ngâm ngoài trời. Vào mùa lạnh, việc đứng lâu ở khu vực ẩm ướt càng vất vả.

Bởi vậy, khi giới thiệu bưu ảnh, không nên chỉ mô tả đây là “cảnh làng quê thơ mộng”. Vẻ đẹp của hình ảnh cần được nhìn cùng sức lao động và điều kiện sinh hoạt của những con người làm nghề.

Đọc bưu ảnh số 64A: phụ nữ bên bể seo giấy

“Femme tirant le papier de la Cuve” có nghĩa gì?

Dòng chữ trên bưu ảnh được dịch sát là “người phụ nữ lấy giấy ra khỏi bể”. Trong kỹ thuật làm giấy thủ công, đây là công đoạn dùng khuôn hoặc liềm seo để lấy một lớp xơ mỏng đang phân tán trong nước.

Người thợ đưa khuôn vào bể bột, điều chỉnh hướng và độ nghiêng, sau đó nhấc lên. Nước thoát qua mặt khuôn, còn các sợi thực vật đan vào nhau thành một lớp mỏng. Lớp xơ ấy về sau trở thành một tờ giấy.

Trong tiếng Việt, có thể chú thích ngắn gọn:

Phụ nữ đang seo giấy bên các bể bột.

Cách gọi “seo giấy” thể hiện đúng bản chất thao tác hơn việc dịch máy móc thành “kéo giấy khỏi thùng”.

Không gian sản xuất kéo dài dọc đường làng

Điểm đáng chú ý của bưu ảnh số 64A là nhiều người phụ nữ cùng làm việc trước những căn nhà mái lá. Các bể hoặc bàn thao tác được đặt thành một hàng dọc lối đi.

Ở phía đối diện, một nhóm người lớn và trẻ em đứng quan sát. Có thể sự xuất hiện của máy ảnh đã thu hút cư dân trong làng. Cũng có khả năng một số nhân vật được đề nghị đứng yên để phù hợp với thời gian ghi hình của thiết bị đương thời.

Xưởng giấy trong ảnh không phải nhà máy tách biệt khỏi khu dân cư. Hoạt động sản xuất diễn ra ngay trước hiên nhà, bên đường và trong sân. Ranh giới giữa lao động, sinh hoạt gia đình và đời sống cộng đồng rất mờ.

Một người có thể vừa làm nghề, vừa trông trẻ, chuẩn bị bữa ăn hoặc trao đổi với hàng xóm. Trẻ em lớn lên giữa các công đoạn sản xuất và tiếp xúc với kỹ năng nghề từ rất sớm.

Vai trò nổi bật của phụ nữ

Phụ nữ xuất hiện ở vị trí trung tâm của bưu ảnh. Họ không phải những nhân vật đứng ngoài quan sát mà đang trực tiếp thực hiện công đoạn quyết định hình dáng và chất lượng tờ giấy.

Seo giấy đòi hỏi sự đều tay. Nếu khuôn được đưa lên quá nhanh, quá chậm hoặc nghiêng không đúng mức, xơ có thể tụ về một phía. Tờ giấy sẽ chỗ dày, chỗ mỏng, bị thủng hoặc mép không đều.

Người thợ phải cảm nhận sự phân bố của bột giấy qua độ nặng của khuôn và chuyển động của nước. Đây là loại tri thức khó ghi thành công thức. Nó thường được truyền bằng quan sát, thực hành và sửa lỗi trong thời gian dài.

Bưu ảnh góp phần cho thấy vai trò kinh tế của phụ nữ trong làng nghề. Tuy nhiên, không nên dựa trên một tấm hình để kết luận rằng toàn bộ công đoạn seo giấy chỉ do phụ nữ đảm nhiệm. Việc phân công có thể thay đổi theo từng gia đình, từng thời kỳ và từng loại sản phẩm.

Màu sắc trên bưu ảnh không phải màu ảnh gốc

Tấm 64A có sắc màu nhẹ trên quần áo, mái nhà và cảnh vật. Đây nhiều khả năng là màu được tô hoặc in thêm trong quá trình sản xuất bưu ảnh, không phải ảnh màu được chụp trực tiếp.

Đầu thế kỷ XX, các nhà xuất bản thường tô màu bằng tay hoặc sử dụng kỹ thuật in để làm bưu ảnh sinh động hơn. Người tô dựa vào phán đoán, quy ước thẩm mỹ hoặc yêu cầu thương mại. Vì vậy, màu áo, màu mái nhà và màu cây cối không nhất thiết phản ánh chính xác màu sắc tại thời điểm chụp.

Khi đăng ảnh, nên ghi:

Bưu ảnh được tô màu.

Không nên chú thích:

Ảnh màu chụp đầu thế kỷ XX.

Đọc bưu ảnh số 65: công đoạn ép giấy

Bưu ảnh số 65 bạn cung cấp trước đó mang chú thích “Fabrication du papier – Le Pressage”, xác định đây là công đoạn ép.

Trong ảnh, một thân gỗ dài được sử dụng như đòn bẩy. Nhiều người đàn ông đứng hoặc ngồi quanh bộ phận ép, trong khi phụ nữ và trẻ nhỏ quan sát. Dưới đòn ép có thể là một tập giấy ướt được xếp chồng.

Sau khi tờ giấy được hình thành trên khuôn, nó vẫn chứa lượng nước lớn. Các tờ được đặt lần lượt thành một tập, rồi đưa vào dụng cụ ép để nước thoát ra. Nếu không ép, giấy lâu khô, khó bóc và dễ biến dạng.

Bộ ép trong ảnh dựa trên nguyên lý đòn bẩy. Một thân gỗ lớn tạo lực nén lên tập giấy. Công cụ nhìn thô sơ nhưng phải được bố trí hợp lý để tạo đủ áp lực mà không làm xô lệch hoặc rách những lớp giấy còn mềm.

Hình ảnh này cho thấy kỹ thuật thủ công không đồng nghĩa với việc thiếu hiểu biết cơ học. Người thợ tận dụng trọng lượng, chiều dài đòn bẩy và điểm tựa để tạo ra một lực lớn hơn nhiều so với sức của một người.

Sau khi ép, các tờ giấy được bóc ra riêng biệt rồi làm khô. Quá trình bóc cũng cần khéo léo vì giấy vẫn ẩm, dễ dính và có thể bị rách nếu kéo không đúng hướng.

Quy trình làm giấy hiện lên qua bộ bưu ảnh

Không phải tất cả các bước đều xuất hiện trong những tấm bạn đã cung cấp. Tuy nhiên, khi kết hợp chú thích của loạt bưu ảnh với hiểu biết về nghề giấy thủ công, có thể hình dung một chuỗi công việc tương đối hoàn chỉnh.

Chuẩn bị và phân loại nguyên liệu

Vỏ cây được thu gom, vận chuyển về làng rồi phân loại. Những phần quá cứng, hư hỏng hoặc lẫn nhiều tạp chất phải được loại bỏ.

Nguồn nguyên liệu không nhất thiết nằm ngay tại Hà Nội. Làng nghề có thể phụ thuộc vào mạng lưới người khai thác, người vận chuyển và thương lái từ các vùng có cây phù hợp. Vì thế, một tờ giấy là sản phẩm của quan hệ kinh tế vượt ra ngoài phạm vi ngôi làng.

Ngâm và nấu vỏ cây

Vỏ được ngâm trong bể, sau đó nấu hoặc xử lý để làm mềm. Đây là công đoạn xuất hiện trong bưu ảnh số 68.

Việc dùng bể ngâm cho phép nguyên liệu hút nước và biến đổi dần. Lò nấu giúp nhiệt tác động sâu hơn vào cấu trúc vỏ. Tùy kỹ thuật, người thợ có thể kết hợp với tro, vôi hoặc những chất hỗ trợ khác.

Không nên hiểu “ngâm” là chỉ đặt vỏ cây vào nước trong một thời gian cố định. Người làm nghề phải theo dõi trạng thái nguyên liệu và điều chỉnh theo mùa, nhiệt độ, loại cây cũng như chất lượng giấy muốn sản xuất.

Rửa, đãi và làm sạch

Sau khi được xử lý, nguyên liệu phải rửa kỹ để loại bỏ chất bẩn, phần vỏ tối màu và cặn còn lại.

Nước giữ vai trò quyết định. Nghề giấy Kẻ Bưởi phát triển trong mối quan hệ mật thiết với sông Tô Lịch, ao, giếng và hệ thống dẫn nước của làng. Nước được dùng từ lúc ngâm, rửa, pha bột cho đến vệ sinh khuôn và bể.

Chất lượng nước ảnh hưởng đến màu giấy và độ sạch của thành phẩm. Vì thế, ký ức dân gian về giếng sâu, nước trong trong vùng làng giấy không chỉ mang ý nghĩa cảnh quan mà còn phản ánh yêu cầu kỹ thuật của nghề.

Giã nguyên liệu thành bột

Xơ đã mềm được đưa vào cối để giã. Công đoạn này tạo nên “nhịp chày Yên Thái” nổi tiếng.

Người thợ cần giã đủ để các dải xơ tách nhỏ và phân bố được trong nước, nhưng vẫn giữ cấu trúc sợi tạo độ dai cho giấy. Đây là công việc tốn sức và lặp lại trong thời gian dài.

Tại những gia đình sản xuất thường xuyên, tiếng chày có thể vang từ sáng sớm. Khi nhiều nhà cùng làm, âm thanh lan rộng trên một vùng, trở thành dấu hiệu nhận biết của làng nghề.

Pha bột trong bể seo

Bột xơ được hòa với nước trong một bể lớn. Người thợ khuấy để các sợi phân tán đều.

Trong một số kỹ thuật giấy truyền thống, chất nhầy có nguồn gốc thực vật được thêm vào nhằm giữ xơ lơ lửng lâu hơn và hạn chế việc chúng chìm hoặc vón cục. Tỷ lệ pha phụ thuộc vào kinh nghiệm, thời tiết và độ dày của loại giấy cần làm.

Bể giấy không phải một hỗn hợp đặc như bột làm bánh. Phần lớn thể tích là nước, còn xơ được phân tán thành một lớp rất loãng. Chính vì vậy, thao tác của người seo có ảnh hưởng lớn đến lượng xơ được giữ lại trên khuôn.

Seo từng tờ giấy

Người thợ đưa liềm hoặc khuôn xuống bể, lấy một lượng xơ và nhấc lên. Nước chảy qua mặt khuôn, để lại lớp sợi mỏng.

Bưu ảnh số 64A ghi lại công đoạn này. Việc nhiều phụ nữ cùng seo giấy cho thấy sản xuất có thể được tổ chức đồng thời ở nhiều bể, giúp tăng số lượng thành phẩm.

Mỗi lần nhấc khuôn tạo nên một tờ. Để hàng trăm tờ có độ dày tương đối đồng đều, người thợ phải lặp lại động tác với lực, góc và tốc độ gần như ổn định.

Xếp giấy ướt thành tập

Tờ vừa seo được chuyển khỏi khuôn và đặt lên tập giấy ướt. Các mép cần tương đối thẳng để quá trình ép diễn ra đều.

Giữa các tờ không nhất thiết phải có một lớp vật liệu ngăn cách như khi người hiện đại xếp giấy. Tính chất của xơ và kỹ thuật thao tác cho phép chúng được bóc riêng sau khi ép.

Đây là một chi tiết khiến nhiều người lần đầu xem làm giấy thủ công cảm thấy ngạc nhiên: những lớp giấy rất mỏng, ướt và đặt sát nhau nhưng vẫn có thể tách ra thành từng tờ.

Ép nước

Tập giấy được đưa vào bộ ép như trong bưu ảnh số 65. Áp lực đẩy nước ra khỏi khoảng trống giữa các lớp xơ.

Ép phải đủ mạnh và đủ lâu. Nếu nước còn quá nhiều, giấy khó bóc, dễ bị kéo giãn hoặc mất hình dạng. Nếu tập giấy bị lệch, lực phân bố không đều có thể làm một phần bị nhăn hoặc rách.

Công đoạn này thường cần sức lực của nhiều người, nhất là khi sử dụng bộ ép lớn bằng gỗ.

Bóc và làm khô

Sau khi ép, các tờ được bóc lần lượt rồi phơi hoặc áp lên bề mặt phẳng để hong khô.

Nắng, gió và độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất. Trời quá ẩm khiến giấy lâu khô; nắng hoặc gió quá mạnh có thể làm tờ giấy cong, nhăn hoặc khô không đều.

Khi nhiều hộ cùng sản xuất, giấy có thể xuất hiện trên sân, vách, phên và các khoảng trống quanh làng. Cả khu dân cư trở thành một không gian phơi sản phẩm.

Phân loại và hoàn thiện

Giấy khô được kiểm tra, phân loại theo độ dày, màu sắc, độ đều và kích thước. Tùy mục đích, bề mặt giấy có thể tiếp tục được làm phẳng, xử lý hoặc cắt theo khổ.

Không phải mọi tờ giấy trong làng đều có chất lượng và công dụng giống nhau. Có loại phục vụ viết, in, vẽ; có loại dùng trong sinh hoạt, tín ngưỡng hoặc làm nguyên liệu cho những nghề thủ công khác.

Giấy dó và đời sống văn hóa Thăng Long – Hà Nội

Vật liệu của chữ viết và sách vở

Trước khi giấy công nghiệp phổ biến, giấy thủ công giữ vai trò quan trọng trong đời sống tri thức. Nó được dùng để viết chữ, sao chép sách, lập gia phả, ghi hương ước, lưu sổ sách và thực hiện nhiều loại văn bản.

Một trang sách cổ không chỉ là sản phẩm của người viết hoặc người khắc ván. Đằng sau nó còn có người trồng hoặc khai thác cây, người vận chuyển nguyên liệu, người nấu vỏ, giã xơ, seo giấy, ép và phơi từng tờ.

Bộ bưu ảnh làng giấy giúp đưa những người lao động thường ít được nhắc tới trong lịch sử chữ viết trở lại vị trí xứng đáng.

In mộc bản và tranh dân gian

Giấy dó phù hợp với kỹ thuật in từ ván khắc. Bề mặt có khả năng tiếp nhận mực, trong khi cấu trúc xơ tạo độ dai để tờ giấy chịu được quá trình in và bảo quản.

Nhiều loại sách, kinh, văn bản và tranh dân gian từng sử dụng giấy thủ công. Tùy dòng tranh hoặc mục đích, giấy có thể được phủ thêm vật liệu để tạo màu nền, độ óng hoặc hiệu ứng bề mặt.

Giấy dùng cho tranh không chỉ là phần nền thụ động. Màu tự nhiên, đường xơ và độ hút mực góp phần tạo nên vẻ đẹp của tác phẩm.

Văn bản hành chính và giấy sắc

Một số làng quanh Thăng Long từng nổi tiếng với các loại giấy phục vụ cơ quan hành chính và triều đình. Nghĩa Đô thường được nhắc đến trong mối liên hệ với nghề làm giấy sắc.

Giấy sắc dùng cho sắc phong cần độ bền và kỹ thuật chế tác riêng. Thành phẩm còn trải qua những bước trang trí, vẽ hoặc in hoa văn trước khi được dùng để ghi văn bản.

Không nên đánh đồng mọi loại giấy trong bộ bưu ảnh với giấy sắc. Loạt ảnh ghi lại nghề giấy nói chung, trong khi từng loại sản phẩm có thể được làm tại những làng khác nhau hoặc theo quy trình hoàn thiện riêng.

Giấy trong tín ngưỡng và tôn giáo

Giấy được sử dụng để chép kinh, viết sớ, ghi văn tế, làm đồ lễ và tạo nhiều vật dụng phục vụ phong tục, tín ngưỡng.

Giá trị ở đây nằm trong vai trò của giấy như một phương tiện biểu đạt: con người dùng chữ viết, hình vẽ và đồ vật bằng giấy để thể hiện ký ức, lòng thành kính hoặc quan niệm về mối liên hệ giữa người sống với tổ tiên và thế giới thiêng.

Cần phân biệt ý nghĩa văn hóa ấy với những lời hứa hẹn mang tính mê tín. Một loại giấy hoặc nghi thức sử dụng giấy không tự bảo đảm tài lộc, sức khỏe hay khả năng thay đổi số phận.

Con người và đời sống làng nghề qua bưu ảnh

Những người lao động không được ghi tên

Nhân vật trong ảnh hiện lên khá rõ nhưng phần lớn không có danh tính. Chú thích thường chỉ gọi họ bằng nghề nghiệp, giới tính hoặc hành động: “người phụ nữ lấy giấy khỏi bể”, “thợ làm giấy”, “công đoạn ép”.

Đây là đặc điểm phổ biến của bưu ảnh thời thuộc địa. Người dân được dùng để đại diện cho một nghề hoặc một cảnh sinh hoạt, trong khi tên tuổi và câu chuyện cá nhân của họ không được ghi lại.

Khi sử dụng ảnh ngày nay, nên nhìn họ như những chủ thể có kỹ năng, gia đình và đời sống riêng, không chỉ là “nhân vật lạ” trong một bức hình cổ.

Trẻ em lớn lên giữa không gian sản xuất

Trong các bưu ảnh, trẻ em xuất hiện khá nhiều. Chúng đứng bên người lớn, ngồi trước cửa nhà hoặc tụ tập nhìn về phía máy ảnh.

Sự có mặt này phản ánh tính chất hộ gia đình của làng nghề. Nơi sản xuất nằm ngay trong không gian sống, vì vậy trẻ em tiếp xúc với nghề từ sớm. Chúng quan sát động tác của người lớn, nghe từ ngữ nghề nghiệp và có thể phụ giúp những việc phù hợp.

Tuy nhiên, không nên lãng mạn hóa toàn bộ khung cảnh. Điều kiện lao động đầu thế kỷ XX còn thiếu nhiều tiêu chuẩn an toàn và bảo vệ trẻ em theo quan niệm hiện đại.

Máy ảnh làm thay đổi cảnh được chụp

Trong bưu ảnh 64A, nhiều người đứng thành hàng và nhìn thẳng về phía ống kính. Điều này cho thấy sự hiện diện của người chụp đã tác động đến cảnh vật.

Một số người có thể tạm dừng công việc, được đề nghị giữ nguyên tư thế hoặc tập trung quanh vị trí chụp. Vì kỹ thuật nhiếp ảnh đương thời chưa linh hoạt như máy ảnh hiện đại, nhân vật thường phải đứng tương đối yên.

Do đó, ảnh là bằng chứng trực quan quý giá nhưng không phải bản sao hoàn toàn tự nhiên của đời sống. Nó là khoảnh khắc đã được người chụp lựa chọn, sắp xếp khung hình và đôi khi có sự hợp tác của người trong ảnh.

Cái nhìn thuộc địa trong dòng chữ “Tonkin – Hanoï”

“Tonkin” là cách người Pháp gọi Bắc Kỳ trong thời kỳ thuộc địa. Dòng chữ này đặt bưu ảnh vào một hệ thống địa lý và quản lý do chính quyền Pháp sử dụng.

Những bưu ảnh về làng nghề được sản xuất phần lớn cho người mua là người Pháp, người châu Âu hoặc tầng lớp thị dân có nhu cầu sưu tầm. Hình ảnh lao động thủ công, mái tranh, trang phục bản địa và đời sống làng quê có thể được lựa chọn vì tạo cảm giác khác lạ đối với công chúng phương Tây.

Chú thích thường rất ngắn. Nó nêu tên hành động nhưng không giải thích lịch sử làng nghề, giá trị của giấy dó hay kiến thức kỹ thuật của người thợ. Vì thế, người xem ngày nay cần đọc vượt ra ngoài dòng chữ in sẵn.

Thay vì chỉ thấy một “ngôi làng bản xứ”, có thể nhận ra đây là một cộng đồng sản xuất có tổ chức, sở hữu tri thức nguyên liệu, nước, nhiệt, cơ học và kỹ năng điều khiển sợi thực vật.

Thay vì chỉ nhìn phụ nữ như nhân vật trang trí cho bưu ảnh, cần thấy họ là lực lượng lao động trực tiếp tạo nên sản phẩm.

Thay vì chỉ hoài niệm những mái tranh, cần nhận biết cả sự gian khó của công việc bên lò nóng, bể nước và những dụng cụ thủ công.

Giá trị tư liệu của bộ bưu ảnh làng giấy

Ghi lại kỹ thuật đã mai một tại Hà Nội

Ngày nay, rất khó tái hiện đầy đủ một xưởng giấy ở Kẻ Bưởi với lò, bể ngâm, cối giã, bể seo và bộ ép như trong ảnh.

Những dụng cụ từng quá quen thuộc với người trong nghề đã biến mất khi sản xuất ngừng lại. Bưu ảnh vì thế trở thành bằng chứng trực quan về kích thước, cấu tạo và cách bố trí công cụ.

Dù không thể thay thế lời kể của nghệ nhân, ảnh giúp người nghiên cứu đặt ra câu hỏi: bể được xây bằng vật liệu gì, lò nằm cách nhà ở bao xa, đòn ép được bố trí thế nào, mỗi khu vực có bao nhiêu người làm việc và không gian được tổ chức ra sao.

Ghi lại kiến trúc làng ven đô

Mái tranh, vách đất hoặc phên tre, đường đất, hàng cây và những khu sản xuất ngoài trời cho thấy diện mạo của Kẻ Bưởi trước quá trình đô thị hóa mạnh.

Đây là một vùng nằm gần kinh thành nhưng chưa mang hình thức của phố thị hiện đại. Nhà ở và ruộng vườn xen lẫn xưởng nghề, sông ngòi và ao giếng.

So với phố Thụy Khuê đông đúc ngày nay, cảnh quan trong bưu ảnh gần như thuộc về một thế giới khác. Sự đối chiếu ấy giúp người đọc nhận ra tốc độ biến đổi không gian Hà Nội trong hơn một thế kỷ.

Ghi lại trang phục và quan hệ cộng đồng

Bưu ảnh cho thấy cách mặc áo, quấn khăn, búi tóc, đi chân đất và sử dụng các loại vật dụng thường ngày.

Quan trọng hơn, ảnh phản ánh tính cộng đồng của sản xuất. Nhiều người làm việc cạnh nhau, trẻ em có mặt trong xưởng, hàng xóm tụ tập bên đường và nhà ở mở trực tiếp ra khu vực thao tác.

Những chi tiết ấy khó xuất hiện trong văn bản hành chính, nhưng lại rất rõ trong hình ảnh.

Ghi lại mối quan hệ giữa nghề và nguồn nước

Các bể trong ảnh số 68 và bể seo trong ảnh 64A chứng minh nước là thành phần trung tâm của quy trình.

Lịch sử làng giấy vì thế cũng là lịch sử môi trường. Khi nguồn nước thay đổi, bị ô nhiễm hoặc không còn đủ không gian dẫn và chứa, nghề truyền thống khó có thể tiếp tục theo cách cũ.

Sự biến mất của làng nghề không chỉ do giấy công nghiệp rẻ hơn. Nó còn liên quan đến thay đổi đất đai, dân số, hạ tầng, nguồn nguyên liệu và môi trường đô thị.

Gợi ý sắp xếp các bưu ảnh trên website

Nếu bộ sưu tập của bạn có nhiều tấm cùng loạt, nên sắp xếp theo nội dung nghề nghiệp thay vì số in trên bưu ảnh. Các số 64A, 65 hay 68 là mã phát hành, không phải trình tự kỹ thuật.

Một thứ tự phù hợp có thể gồm:

  1. Toàn cảnh làng giấy và đường làng.
  2. Khu vực tập kết vỏ cây.
  3. Lò nấu và bể ngâm nguyên liệu.
  4. Rửa, đãi hoặc làm sạch vỏ cây.
  5. Giã xơ thành bột.
  6. Pha bột trong bể.
  7. Phụ nữ seo giấy.
  8. Xếp các tờ giấy ướt.
  9. Ép tập giấy.
  10. Bóc và làm khô.
  11. Giấy được phơi quanh nhà.
  12. Giếng, sông hoặc nguồn nước.
  13. Chân dung người thợ và cư dân.
  14. Công trình tín ngưỡng, nhà ở và cảnh quan trong vùng.

Mỗi chú thích nên dịch dòng chữ gốc, sau đó giải thích ngắn bằng thuật ngữ tiếng Việt. Không cần diễn giải quá dài ngay dưới ảnh vì phần nội dung chính của bài đã trình bày quy trình.

Chú thích đề xuất cho những bức ảnh đã cung cấp

Bưu ảnh số 64A

Chú thích ngắn:

Phụ nữ seo giấy bên các bể bột tại vùng làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX. Bưu ảnh số 64A do cơ sở Pierre Dieulefils phát hành; bản được tô màu.

Alt ảnh:

Phụ nữ seo giấy bên những ngôi nhà mái lá tại làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX.

Bưu ảnh số 65

Chú thích ngắn:

Người thợ ép tập giấy ướt bằng một bộ đòn bẩy gỗ. Bưu ảnh số 65, loạt “Làm giấy – Công đoạn ép” do cơ sở Pierre Dieulefils tại Hà Nội phát hành.

Alt ảnh:

Người dân dùng đòn bẩy gỗ ép giấy tại làng giấy Hà Nội xưa.

Bưu ảnh số 68

Chú thích ngắn:

Lò nấu và các bể ngâm ủ vỏ cây tại vùng làng giấy Hà Nội. Bưu ảnh số 68 do cơ sở Pierre Dieulefils phát hành, được gửi qua đường bưu điện vào đầu thế kỷ XX.

Nếu dấu bưu chính trên bản gốc đọc được rõ năm 1907, có thể ghi:

Bản bưu ảnh này có dấu bưu điện năm 1907; thời điểm chụp ảnh gốc chưa được xác định chính xác.

Alt ảnh:

Lò nấu và bể ngâm nguyên liệu trong một xưởng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX.

Những lưu ý khi đăng toàn bộ bộ ảnh

Không gắn bộ ảnh với Georges-Auguste Marbotte

Marbotte cũng để lại ảnh về Việt Nam và có những hình ảnh từng được giới thiệu là liên quan đến nghề giấy Yên Thái. Tuy nhiên, các bưu ảnh mang số 64A, 65 và 68 với phong cách chú thích nêu trên thuộc loạt Dieulefils.

Hai bộ tư liệu có thể cùng nói về một nghề và một vùng địa lý, nhưng không nên trộn lẫn thành một bộ duy nhất.

Phân biệt người chụp và nhà phát hành

Cụm “Collection Dieulefils” hoặc biểu trưng của cơ sở chứng minh mối liên hệ với nhà phát hành. Trong trường hợp chưa có hồ sơ âm bản, cách viết chặt chẽ là:

Bưu ảnh do Pierre Dieulefils phát hành.

Cách viết này an toàn hơn:

Ảnh do Pierre Dieulefils trực tiếp chụp.

Không suy năm chụp từ dấu bưu điện

Tem, chữ viết tay và dấu nhật ấn cho biết lịch sử sử dụng của tấm bưu ảnh. Chúng không nhất thiết cho biết thời điểm âm bản được tạo ra.

Nếu một bưu ảnh được gửi năm 1907, ảnh gốc có thể đã được chụp từ trước. Các nhà xuất bản thường tiếp tục in một khuôn hình trong nhiều năm nếu thị trường còn nhu cầu.

Giữ lại phần viền, số và chú thích gốc

Khi cắt ảnh để đăng, không nên loại bỏ toàn bộ phần chữ in ở mép trên hoặc mép dưới. Những chi tiết này là bằng chứng nhận diện xuất xứ.

Số thứ tự, tên địa danh, biểu trưng, màu mực, tem và dấu bưu điện đều có giá trị nghiên cứu. Một bản ảnh bị cắt quá sát có thể đẹp hơn khi trình bày, nhưng lại mất thông tin quan trọng.

Có thể đăng bản đầy đủ trước, sau đó thêm một bản cắt cận cảnh để người đọc quan sát chi tiết.

Ghi rõ ảnh được tô màu

Một số tấm có màu sắc bắt mắt nhưng đó thường là màu được bổ sung sau khi ảnh đen trắng được chụp.

Chú thích “bưu ảnh tô màu” giúp người đọc phân biệt tư liệu gốc với màu sắc do nhà xuất bản hoặc người phục dựng tạo ra.

Không tự nhận diện nhân vật

Không nên đặt tên, xác định quan hệ gia đình hoặc gọi một người trong ảnh là nghệ nhân nổi tiếng nếu không có hồ sơ.

Các cách gọi phù hợp gồm “một nữ thợ seo giấy”, “nhóm người thợ”, “trẻ em trong làng” hoặc “người dân đứng bên xưởng giấy”.

Bộ bưu ảnh kể một câu chuyện lớn hơn về Hà Nội

Làng giấy không nằm ngoài lịch sử thành phố. Nó là một phần của hệ thống làng nghề từng nuôi dưỡng đời sống Thăng Long – Hà Nội.

Giấy được làm ở vùng ven đô rồi đưa vào phố để bán, viết, in, vẽ và sử dụng trong các hoạt động hành chính, giáo dục, tín ngưỡng. Giữa người thợ ở làng và người dùng giấy trong thành phố tồn tại một mạng lưới trao đổi chặt chẽ.

Khi nhìn một cuốn sách cổ, một bức tranh dân gian hoặc một đạo sắc, người ta thường chú ý đến nội dung chữ viết và hình vẽ. Bộ bưu ảnh nhắc rằng trước khi chữ xuất hiện, đã có một quá trình lao động dài để tạo nên bề mặt tiếp nhận chữ.

Vỏ cây phải được thu gom. Lò phải đỏ lửa. Nguyên liệu phải trải qua những ngày ngâm và rửa. Xơ phải được giã. Bột phải được khuấy. Người phụ nữ phải nhấc khuôn hàng trăm lần. Tập giấy phải được ép rồi từng tờ được bóc và hong khô.

Một sản phẩm mỏng, nhẹ và tưởng như đơn giản là kết quả của tri thức tích lũy, sức lao động gia đình và điều kiện tự nhiên của cả một vùng.

Bộ bưu ảnh cũng cho thấy Hà Nội đầu thế kỷ XX chưa chỉ là những con đường kiểu châu Âu hoặc phố buôn bán đông đúc. Bao quanh đô thị còn là ruộng vườn, sông ngòi và những cộng đồng làng nghề lâu đời. Chính họ cung cấp vật liệu, thực phẩm, sản phẩm thủ công và nhân lực cho thành phố.

Giá trị của việc nhận diện đúng bộ tư liệu

Việc đổi từ “bộ ảnh Marbotte chụp năm 1907” sang “bộ bưu ảnh Dieulefils về làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX” không phải một thay đổi nhỏ về tiêu đề.

Cách xác định mới làm rõ ba lớp thông tin.

Thứ nhất, đây là bưu ảnh thương mại, không chỉ là ảnh lưu niệm cá nhân. Hình ảnh đã được đánh số, chú thích, in thành nhiều bản và đưa vào lưu thông.

Thứ hai, mốc thời gian cần được hiểu theo khoảng niên đại. Một tấm được gửi năm 1907 không đồng nghĩa ảnh gốc được chụp đúng năm đó.

Thứ ba, chữ “làng giấy” chỉ một vùng sản xuất, có khả năng là Kẻ Bưởi với trung tâm nổi bật là Yên Thái, nhưng chưa đủ để gán mọi bức cho một làng cụ thể.

Sự thận trọng này giúp bộ ảnh giữ được giá trị lâu dài. Khi thông tin được trình bày đúng mức độ chắc chắn, người đọc vừa thưởng thức hình ảnh, vừa hiểu cách tư liệu lịch sử cần được kiểm chứng.

Kết luận

Loạt bưu ảnh mang dòng chữ “Tonkin – Hanoï – Village du papier” là nguồn tư liệu quý về vùng làng giấy Hà Nội đầu thế kỷ XX. Các tấm số 64A, 65 và 68 ghi lại nhiều công đoạn quan trọng: ngâm ủ vỏ cây, seo giấy và ép tập giấy ướt.

Những dấu hiệu trên ảnh cho thấy đây là loạt bưu ảnh gắn với cơ sở của Pierre Dieulefils, không nên nhập chung với bộ ảnh của Georges-Auguste Marbotte. Mốc năm 1907, khi xuất hiện trên dấu bưu chính, cần được hiểu là thời điểm gửi hoặc lưu hành của một bản bưu ảnh, chưa đủ để xác định năm chụp của toàn bộ loạt hình.

Qua những mái nhà tranh, bể nước, lò nấu, đòn ép và dáng người lao động, người xem có thể hình dung một Hà Nội từng được tạo nên bởi cả phố thị lẫn làng nghề. Ký ức về giấy dó Kẻ Bưởi vì thế không chỉ nằm trong câu ca về nhịp chày Yên Thái. Nó còn được lưu giữ trong từng bưu ảnh nhỏ, nơi đôi tay của những người thợ vô danh tiếp tục kể câu chuyện về một nghề từng góp phần nâng đỡ đời sống chữ nghĩa và văn hóa của Thăng Long – Hà Nội.

Chi Tran

Về tác giả

Chi Tran

Biên soạn viên tại Văn Hóa Tâm Linh

Chi Tran là người biên soạn nội dung tại Văn Hóa Tâm Linh, tập trung tìm hiểu tín ngưỡng dân gian, phong tục thờ cúng, lễ hội truyền thống, di tích và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Ghi chú biên soạn: Nội dung được biên soạn theo hướng tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng, phân biệt giữa tư liệu lịch sử, truyền thuyết dân gian và thực hành cộng đồng.

Xem tất cả 2.425 bài viết của Chi Tran
Bài viết liên quan

Để lại bình luận